Đạo đức doanh nhân Việt Nam hiện nay

10 02 2009

Đạo đức doanh nhân Việt Nam hiện nay

Trong
bài viết này chúng tôi không đề cập vấn đề đạo đức Doanh nhân là gì?
Nội dung đạo đức Doanh nhân gồm những phẩm chất nào? Các vấn đề đó đã
được trình bày trong giáo trình của khoa học Quản trị kinh doanh. ở
đây, chúng tôi xin nêu một số vấn đề cơ bản về đạo đức Doanh nhân Việt
đặt ra hiện nay. Cần nhận thức Doanh nhân như một giá trị văn hóa – giá
trị đạo đức.

Khi xã hội gọi một nhà doanh nghiệp
(kinh doanh, buôn bán) là một Doanh nhân tức là đã tôn vinh một giá trị
xã hội. Người đó không chỉ thành công trong sự nghiệp kinh doanh mà còn
có một uy tín xã hội cao. Họ là người đại diện cho một trong sáu giá
trị của xã hội tổng thể: giá trị chính trị, giá trị kinh tế, giá trị
khoa học, giá trị đạo đức, giá trị nghệ thuật, giá trị tôn giáo. Nếu
trong một xã hội, các giá trị trên đều được thừa nhận và đều được phát
triển thì đó là một xã hội thịnh vượng và bền vững.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ý thức được điều đó, Người đã tôn vinh Doanh nhân ngay sau khi nước Việt

Nam mới ra đời. Bốn mươi ngày sau Tuyên ngôn độc lập, Người đã gửi thư cho giới Công – Thương Việt
Nam với một sự tôn xưng rất trọng thị “Cùng
các ngài trong giới Công – Thương” (ngày 13/10/1945). Không một người
nào ngoài các chính khách, vị nhân sỹ, tướng lĩnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh
dùng từ tôn xưng “các ngài” như thư gửi giới Công – Thương Việt Nam.

Văn hóa doanh nhân là một giá trị xã hội cao quí
không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của một người nào đó, mà xuất
phát từ vai trò xã hội của Doanh nhân. Vai trò đó là vô cùng quan trọng
trong việc xây dựng đời sống vật chất, kinh tế cho sự tồn tại và phát
triển của một quốc gia dân tộc, một chế độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
ra rằng: “Giới Công – Thương phải hoạt động để xây dựng nền kinh tế và
tài chính vững vàng và thịnh vượng”. Sự nghiệp chấn hưng nền kinh tế
của đất nước, Doanh nhân phải là đầu tầu, là động lực to lớn “Nền kinh
tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công
nghiệp thương nghiệp thịnh vượng”. Cha ông ta từng nói: Phi trí bất
hưng, phi thương bất phú, phi công bất hoạt. Giầu có và năng động là
những giá trị xã hội mà Doanh nhân là những người tiêu biểu.

Sự cao quý của Doanh nhân cần nhìn nhận từ phương
diện đạo đức thì mới thấy hết được. Ngay trong những ngày đầu dựng nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà và giữ độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã sớm nhận thấy ý nghĩa đạo đức của Doanh nhân Việt
Nam. Người mong giới công thương “nỗ lực” đem
tài năng và của cải “vào những việc ích quốc lợi dân” – đó cũng là một
nhiệm vụ cứu nước (Người kêu gọi các Doanh nhân tham gia “Công – Thương
cứu quốc đoàn”). Những tấm gương Doanh nhân tiêu biểu vì nước, vì dân
trở thành ân nhân của cách mạng như ông bà Trịnh Văn Bô ở Hà Nội và
nhiều người khác đã chứng tỏ giá trị đạo đức Doanh nhân.

Đạo đức là đem lại lợi ích cho con người và xã hội,
C. Mác nói rằng: “Lợi ích hiểu một cách đúng đắn là cơ sở của toàn bộ
đạo đức”. Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh giá trị đạo đức của Doanh nhân càng được chú ý hơn. Lợi ích của
con người Việt Nam, của dân tộc Việt
Nam hôm nay không chỉ là độc lập tự do mà còn
là dân giàu, nước mạnh, cuộc sống phồn vinh và có chất lượng. Phải xây
dựng và phát triển kinh tế thì dân mới giàu và nước mới mạnh (và mới
giữ vững được độc lập, tự do). Trong sự nghiệp phát triển kinh tế ấy,
Doanh nhân phải là nhân vật trọng tâm, là đầu tầu thúc đẩy, tạp chí
Forbes nổi tiếng của Mỹ cho rằng, mỗi một quốc gia phải có ít nhất một
tỷ phú (đô la Mỹ) thì mới có động lực để đi tới phồn vinh được. Sự phát
triển kinh tế mang lại lợi ích cho con người, là tiền đề thực hiện
những lý tưởng đạo đức cao quý, V. I. Lênin từng khẳng định: “Những lý
tưởng cao cả không đáng giá một đồng xu nhỏ nếu nó không mang lại lợi
ích cho những người đang trực tiếp tham gia vào công cuộc đấu tranh
kinh tế”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng “Nước độc lập mà dân không
được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập chẳng có nghĩa lý gì”.

Nếu kinh tế không phát triển, nếu không làm chủ được
nền kinh tế của đất nước, liệu người dân có được hưởng “hạnh phúc, tự
do” hay không? Với ý nghĩa đó, có thể khẳng định Văn hóa Doanh nhân là
một giá trị đạo đức cao quý cần được tôn vinh. Người Nhật Bản cho rằng,
nói đến nước Nhật Bản hiện đại phải nhắc đến các Doanh nhân nổi tiếng
như

Toyota, Sony, Honđa… Đó là niềm tự hào của đất nước Mặt trời mọc. Người ta lấy tên
Toyota đặt tên cho cả một thành phố; ông chủ
hãng Sony mất, nước Nhật Bản để quốc tang. Xem vậy, mới thấy người ta
tôn vinh Doanh nhân như thế nào! Tiếc rằng, ở nước ta mãi sau 59 năm
xây dựng chế độ mới chúng ta mới tổ chức tôn vinh ngày Doanh nhân Việt

Nam (có lẽ sự tôn vinh sau tất cả mọi sự tôn vinh).

Hơn nữa, Doanh nhân còn là một giá trị có tính tổng
hợp, tích hợp các giá trị xã hội khác. Trong một cuộc điều tra xã hội
học về mẫu nhân cách lý tưởng mà tuổi trẻ vươn tới, câu hỏi đưa ra với
bốn mẫu người: 1. Quân nhân; 2. Bác học; 3. Nghệ sỹ; 4. Doanh nhân, bạn
thích mẫu người nào? Nhiều bạn trẻ chọn mẫu người Doanh nhân vì theo họ
trong Doanh nhân đã hàm chứa cả tinh thần dũng cảm của người lính, cả
sự thông minh của nhà khoa học và cả tài năng bẩm sinh của người nghệ
sỹ. Gần đây, báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra một số liệu
điều tra đáng quan tâm về mẫu người bạn trẻ yêu thích, thì nhà Doanh
nghiệp Mỹ nổi tiếng Bill Gate đứng đầu. Dù cuộc điều tra ấy có những ý
kiến khác nhau, song một sự thật không thể phủ nhận là trong thời đại
ngày nay Doanh nhân là mẫu người lý tưởng tiêu biểu của xã hội hiện đại.

II. Đặc trưng của đạo đức Doanh nhân Việt

Nam hiện nay.

1. Nói đến đặc trưng đạo đức của Doanh nhân Việt Nam
hiện nay là nói đến đạo lý, triết lý sống của Doanh nhân và sự độc đáo
riêng biệt mang bản sắc dân tộc. Cũng trong thư gửi giới Công – Thương
Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến đạo lý, triết lý doanh thương
của Doanh nhân Việt Nam: “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với
nhau”, mục đích của Doanh nhân là “đem vốn (theo nghĩa rộng: tài năng –
vốn liếng – LQĐ) vào làm những công cuộc ích nước lợi dân”.

Đây chính là triết lý kinh doanh của mọi Doanh nhân chân chính. Đối với Doanh nhân Việt

Nam thì điều đó càng mang ý nghĩa nhân văn, nhân bản sâu sắc hơn. Bởi
nước ta là một nước nghèo, chậm phát triển, mức sống của nhân dân còn
rất thấp, khát vọng vươn tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” là khát
vọng thiêng liêng. Giới Doanh nhân đem tài năng, của cải ra để làm giầu
cho mình đồng thời làm giầu cho đất nước một cách tự nguyện, tự giác
thì đó là một hành động đạo đức rất cao cả. Đây cũng là một đạo lý bắt
nguồn từ truyền thống cộng đồng đã được xây dựng từ hàng ngàn năm của
dân tộc. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã cố kết
lại với nhau, đã đổ biết bao xương máu, mồ hôi nước mắt để dựng nước và
giữ nước. Quá trình đó đã tạo nên tình yêu Tổ quốc, nghĩa đồng bào như
một giá trị thiêng, nó chi phối mọi suy nghĩ, mọi hành động của mỗi
người trong cuộc sống. Nó là cơ sở đánh giá phẩm giá con người: tốt –
xấu; nên – chăng; đúng – sai trong ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, cá
nhân với cộng đồng. Đây cũng là truyền thống của những Doanh nhân Việt
Nam: làm giầu để cứu nước, làm giầu để rửa
nỗi nhục nghèo hèn cho dân tộc. Tinh thần ấy được thể hiện ở đầu thế kỷ
XX, trong lời kêu gọi của những nhà sáng lập công ty Hồng – Tân – Hưng:

“Rủ nhau một họ Hồng Bàng
Hồng – Tân – Hưng thịnh mở ngôi hàng buôn chung”

Đặc biệt thể hiện trong tư tưởng Duy tân, một đường
lối cứu nước rất mới mẻ lúc bấy giờ: phát triển nền kinh tế nước ta
giầu mạnh lên để rồi giành lại độc lập cho dân tộc:

“Suốt thân sỹ ba kỳ Nam Bắc,
Bỗng giật mình sực tỉnh cơn mê.
Học thương, xoay đủ mọi nghề,
Mau mau gọi được hồn về nước ta”

Trong thực tế đã có những Doanh nhân như vậy, đó là
những Doanh nhân trong Công ty Liên Thành (Phan Thiết), đã giúp đỡ anh
thanh niên Nguyễn Tất Thành trên đường tìm đường cứu nước, đó là Doanh
nhân Bạch Thái Bưởi, Trịnh Văn Bô v.v… đã ý thức được điểm đó và đã
đóng góp cho đất nước, cho cách mạng.

Doanh nhân Việt

Nam hôm nay tiếp tục thực hiện truyền thống yêu nước, tự tôn dân tộc là
một ứng xử đạo đức rất cao đẹp. Trong điều kiện mới hiện nay, cơ hội
đang đặt ra cho Doanh nhân thực hiện được lý tưởng đạo đức cao đẹp ấy.

2. Đạo đức của Doanh nhân Việt

Nam hôm nay là “nỗ lực” vươn lên chứng tỏ bản thân, chiến thắng chính
mình và vượt qua những trở lực trên con đường làm cho “dân giàu, nước
mạnh”.

Thời đại hiện nay là thời đại của Doanh nhân, cơ hội
mở ra đối với Doanh nhân là hết sức to lớn, nhưng thử thách đến với họ
cũng hết sức lớn lao.

Về cơ hội, đó là sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, là chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường, là quá trình mở cửa hội nhập với thế giới,
trước hết là hội nhập kinh tế quốc tế . Đây là cơ hội để cho Doanh nhân
Việt Nam thể hiện tài năng, trí tuệ của mình, thực hiện ước mơ của cha
ông, của các thế hệ đi trước.

Song thách thức đối với họ thì hết sức lớn lao.

Tài năng và nhiệt huyết của họ không thua kém Doanh
nhân các nước trên thế giới, nhưng vốn liếng của Doanh nhân Việt Nam
còn nhỏ hẹp, họ lại phải đi sau trên con đường đua tranh kinh tế. Bởi
chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội, trong quá trình tích luỹ vốn liếng cho
sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước, bằng những cuộc cải tạo công thương
nghiệp sau hoà bình ở miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam. Hiện nay thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn chưa thật rõ
ràng, đưa đến sự băn khoăn cho những nhà doanh nhân chân chính.

Truyền thống văn hóa, tâm lý xã hội cổ truyền còn đè nặng lên thái độ nhìn nhận, đánh giá Doanh nhân Việt

Nam. Chúng ta biết rằng, trước Đổi mới, nền kinh tế Việt

Nam vẫn là nền kinh tế nông nghiệp, tự cung, tự cấp sản xuất nhỏ là chủ
yếu. Đó là một nền văn hóa và tâm lý của xã hội cổ truyền, nông dân,
nông thôn, nông nghiệp mang tính “trọng nông, ức thương”, coi thường,
coi khinh kinh doanh, buôn bán. Bảng giá trị của xã hội ấy là: Nhất sỹ,
nhì nông, tam công, tứ cổ, người buôn bán, kinh doanh không được tôn
vinh, thậm chí còn bị khinh bỉ. Không những thế còn bị cản trở, ngăn
cấm, kiểm tra hành chính, thậm chí tịch thu tài sản, vốn liếng. Những
người kinh doanh, buôn bán không được coi là những người “tiến bộ”
trong xã hội, nhiều khi bị nghi ngờ, bị theo dõi.

Do vậy, đến hôm nay trong xã hội vẫn có người cho
rằng không nên giáo dục “lý tưởng làm giầu”, coi “Doanh nhân” không
phải là mẫu nhân cách tiêu biểu. Một tờ báo lập luận như sau: nói lý
tưởng là làm giàu thì đó là bước thụt lùi về lý tưởng của con người.
Ông cha ta mấy nghìn năm nay luôn luôn trăn trở làm giầu để cải thiện
đời sống nhưng không ai nói lý tưởng là làm giầu. Chúng tôi nghĩ rằng
nếu không coi làm giàu như một giá trị có tính lý tưởng, nếu con người
không có khát vọng làm giầu thì không thể làm giầu được (có lẽ làm giầu
không dễ dàng như người ta tưởng). Nếu không làm giầu thì làm gì để
thực hiện được lý tưởng cao cả của chúng ta “dân giầu, nước mạnh, xã
hội công bằng dân chủ, văn minh” (Dân không giầu thì sao nước mạnh được
- lời bài hát của nhạc sỹ Trần Tiến). Cha ông ta mấy nghìn năm trăn trở
làm giầu (chưa hẳn đã như vậy) hoặc có “trăn trở” nhưng chưa thể biến
nó thành khát vọng, hoặc chưa có điều kiện thực hiện khát vọng đó. Cho
nên, đất nước chúng ta phải chịu cảnh nghèo nàn, lạc hậu mấy trăm năm
(!). Phải chăng khi xưa ông cha ta không coi làm giầu là một lý tưởng
thì ngày nay chúng ta cũng phải khuôn theo cha ông không coi làm giàu
là một lý tưởng? Trong thời đại ngày nay, theo chúng tôi, chúng ta phải
coi “làm giầu” là một giá trị mới, cao cả (tất nhiên làm giầu như thế
nào, làm giầu cho ai cần được xác định) và “làm giầu” là yêu nước. Nếu
không làm giầu thì dân chẳng giầu, nước chẳng mạnh và chúng ta cũng
không giữ được độc lập tự do. Và sẽ không thể có “công bằng”, “dân
chủ”, “văn minh”, quan trọng hơn là nhân dân không được hưởng “hạnh
phúc, tự do” mục tiêu cao nhất của con người.

Điều đó đòi hỏi các Doanh nhân Việt

Nam hôm nay phải chứng tỏ chính mình và vượt qua những trở lực để khẳng
định giá trị xã hội mới, khẳng định vai trò của họ trong đời sống xã
hội như là một hành vi văn hóa đạo đức.

Một vấn đề đạo đức nữa đặt ra đối với Doanh nhân
Việt Nam hôm nay là, cần phải giữ gìn được phẩm giá cao đẹp bằng một sự
khôn ngoan chân chính trước những tiêu cực của đời sống xã hội. Chúng
ta biết rằng, trong lực lượng lãnh đạo quản lý đất nước về chính trị,
kinh tế, xã hội có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức
bị tha hóa biến chất: tham nhũng, tham ô, lợi dụng chức quyền vì lợi
ích cá nhân. Họ dùng quyền lực để nhũng nhiễu doanh nhân, lợi dụng
doanh nhân và “câu kết” với doanh nhân xấu để phục vụ cho lợi ích cá
nhân. Câu hỏi lớn và rất khó trả lời đối với Doanh nhân Việt
Nam lúc này là làm thế nào để tránh xa những
quan chức đó? Làm thế nào để góp phần chống tiêu cực ở chính những
người nắm vận mệnh của mình? Đây là một thách thức lớn về lương tâm và
đạo đức đối với Doanh nhân nước ta hiện nay(!).

III. Các điều kiện cần thiết cho đạo đức Doanh nhân Việt

Nam phát triển.

Để cho đạo đức tốt đẹp của Doanh nhân Việt Nam hình
thành và phát triển, chúng tôi nghĩ rằng phải có một tổng thể các giải
pháp, ở đây chúng tôi chỉ xin nêu một số giải pháp được cho là cơ bản
nhất.

1. Giải pháp về chính trị: Muốn cho Doanh nhân Việt

Nam chứng tỏ được tài năng, đạo đức của họ cần phải xây dựng một chế độ
dân chủ thực sự, một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa của nó. Nhà nước
phải là người đại diện quyền lợi của toàn xã hội, là người điều chỉnh
các lợi ích chính đáng của mọi cá nhân, mọi thành phần kinh tế. Từ đó
Nhà nước phải ban hành những văn bản pháp luật, có những chính sách
công bằng, hợp lý để giúp cho Doanh nhân được tự do “cạnh tranh lành
mạnh”, “phát triển bình đẳng”, “phục vụ trung thực”. Hiện nay chúng ta
có đến ba bộ luật về doanh nghiệp: Doanh nghiệp Nhà nước, Doang nghiệp
nước ngoài, Doanh nghiệp tư nhân, chưa thật bình đẳng, chưa thật hợp
lý. Pháp luật cần chặt chẽ, chính xác, quy định những điểm Doanh nhân
được làm tức là những điều pháp luật không cấm. Vừa qua có những vụ án,
các nhà kinh doanh, buôn bán bị quy vào tội danh “lợi dụng kẽ hở” của
pháp luật. Đồng thời cũng cần xác định vấn đề hình sự và hoạt động kinh
doanh buôn bán, không hình sự hóa những vấn đề phức tạp của hoạt động
này.

Ban hành pháp luật là quan trọng, nhưng người thực
thi pháp luật mang tính quyết định. Do vậy, cần phải chống tiêu cực
trong bộ máy quyền lực của Đảng và bộ máy Nhà nước, loại bỏ những phần
tử thoái hóa, biến chất ra khỏi bộ máy Đảng và Nhà nước từ Trung ương
đến các địa phương, các ngành, các cấp. Doanh nhân Việt

Nam cần phải tham gia vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay, việc làm này rất khó khăn nhưng có ý nghĩa rất to lớn.

2. Giải pháp kinh tế: Phải xác định rõ thể
chế kinh tế và chế độ sở hữu ở nước ta trong quá trình phát triển kinh
tế – xã hội hiện nay. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là thế nào? Trong đó lợi ích của Doanh nhân đến đâu? lợi ích xã
hội đến đâu? Vấn đề chế độ sở hữu cần được làm rõ, vấn đề sở hữu tư
nhân có được thừa nhận và bảo vệ, bảo đảm tồn tại lâu dài trong xã hội
xã hội chủ nghĩa không? Vấn đề sở hữu như một động lực thúc đẩy hoạt
động của Doanh nhân. Từ vấn đề này dẫn đến xác lập quan hệ đạo đức và
giá trị, chuẩn mực đạo đức trong xã hội, đây là những vấn đề có liên
quan đến đạo đức của Doanh nhân. Theo Forbes thì “Việc không có một nhà
tỷ phú nào cho thấy quốc gia đó còn nhiều hạn chế trong việc khuyến
khích làm giầu. Tại đó còn tồn tại nhiều chính sách chưa hợp lý, hệ
thống tài chính – thuế khóa chưa minh bạch, cơ chế với sự phát triển
của doanh nhân còn bó buộc” (Báo Thanh niên ngày 5/9/2005). Môi trường
đầu tư của Việt

Nam hiện xếp 99/155 nước được xếp hạng, đứng trong 60 nước có môi trường đầu tư rất khó khăn.

Đặc biệt những Doanh nhân hoạt động trong thành phần
kinh tế Nhà nước (Doanh nghiệp Nhà nước) vai trò, trách nhiệm, quyền
lợi và nghĩa vụ của họ cần được xác định rõ. Nếu không sẽ có tình trạng
làm tốt chưa chắc đã được đánh giá cao, làm dở chưa chắc đã bị đánh giá
thấp, thậm chí còn được tôn vinh bằng những danh hiệu cao quý.

3. Vấn đề nhận thức và tư tưởng: Liên quan
đến đạo đức xã hội và đạo đức Doanh nhân là vấn đề “bóc lột” hiện nay.
Cần hiểu rõ thế nào là “bóc lột” (hay là sử dụng sức lao động) và quan
trọng hơn là “bóc lột” trong điều kiện nước ta hiện nay còn có ý nghĩa
nhân văn, nhân bản, ý nghĩa đạo đức không? Bởi hiện nay có rất nhiều
người lao động (ở nông thôn và thành thị), họ không có công ăn việc làm
để nuôi sống bản thân và gia đình, họ cần được “bán” sức lao động. Nếu
các Doanh nhân tạo cho họ công ăn việc làm, đem tài năng và vốn liếng
vào việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội, cho bản thân thì đó chính
là hành vi đạo đức. Điều này cần được khẳng định, cần được làm rõ ý
nghĩa đạo đức tích cực của việc “bóc lột”, bởi do tính tất yếu kinh tế
- xã hội hiện nay. Đồng thời cần phải khẳng định giá trị của doanh
nghiệp, Doanh nhân trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay. Nếu
trước đây trong sự nghiệp chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất
đất nước vai trò của các quân đoàn, binh đoàn bộ đội, vai trò của các
tướng lĩnh quyết định thắng lợi trên chiến trường, thì ngày nay trong
xây dựng kinh tế vai trò của các doanh nghiệp (các tập đoàn kinh tế),
vai trò của Doanh nhân quyết định chiến thắng trên các thương trường…
Do vậy, cần chuyển đổi các giá trị đạo đức cho phù hợp: nếu trước đây
tinh thần yêu nước thể hiện ở giá trị đạo đức cao cả là phấn đấu cho
độc lập tự do của dân tộc (Không có gì quý hơn độc lập tự do) thì ngày
nay tinh thần yêu nước phải phấn đấu vì “dân giầu, nước mạnh” đó là một
giá trị đạo đức cao đẹp – Doanh nhân phải là người nêu cao giá trị đạo
đức mới và là nhân vật tiêu biểu cho giá trị đó.

4. Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức Doanh nhân.
Vấn đề giáo dục đạo đức cho Doanh nhân là vấn đề của toàn xã hội và là vấn đề tự ý thức của chính giới Doanh nhân.

Đối với xã hội cần phải nâng cao nhận thức về vai
trò của Doanh nhân, giá trị xã hội của Doanh nhân bằng sự tôn vinh
Doanh nhân. Cần khắc phục những mặc cảm sai lầm về doanh nhân. Chúng ta
cần nghiên cứu xây dựng văn hóa Doanh nhân Việt Nam với những đặc
trưng, đặc điểm mang tính đặc thù của Việt Nam như một thương hiệu Việt
Nam trên trường quốc tế.

Chúng ta cần phải bồi dưỡng lý tưởng, đạo lý, triết
lý làm giầu cho các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt thế hệ trẻ để họ
trở thành những Doanh nhân Việt Nam sánh vai cùng Doanh nhân các cường
quốc năm châu theo tinh thần Hồ Chí Minh. Đồng thời, phải xây dựng
truyền thống Doanh nhân Việt Nam với sự tôn vinh Doanh nhân Việt

Nam bên cạnh những giá trị cao đẹp khác của dân tộc.

Tóm lại: trên đây là một số vấn đề cơ bản đặt ra đối với đạo đức Doanh nhân Việt
Nam hiện nay. Vấn đề chúng tôi trình bày ở đây
như là một yếu tố của văn hóa Doanh nhân, văn hóa kinh doanh hiện nay.
Chúng tôi nhận thức rằng đạo đức doanh nhân là yếu tố cốt lõi của văn
hóa Doanh nhân.

PGS.TS Phạm Duy Đức


Tác vụ

Thông tin

Để lại phản hồi