Thói quen 3: ĐƯA CÁI QUAN TRỌNG NHẤT LÊN TRƯỚC CÁC NGUYÊN LÝ QUẢN LÝ CÁ NHÂN

18 12 2008

ĐƯA CÁI QUAN TRỌNG NHẤT LÊN TRƯỚC

CÁC NGUYÊN LÝ QUẢN LÝ CÁ NHÂN

Không bao giờ được phó mặc những cái quan trọng nhất cho những cái không quan trọng nhất.

GOETHE

Bạn
có thể dành một ít thời gian trả lời ngắn gọn hai câu hỏi dưới đây
không? Câu trả lời là quan trọng đối với bạn khi bạn bắt đầu tập luyện
thói quen 3.

Câu
hỏi 1: Điều gì sẽ làm cho cuộc sống cá nhân của bạn thay đổi lớn theo
hướng tích cực nếu bạn thực hiện (hiện nay bạn chưa thực hiện) điều đó
một cách thường xuyên?

Câu hỏi 2: Điều gì trong đời sống kinh doanh hoặc nghề nghiệp của bạn sẽ đem lại kết quả tương tự.

Chúng ta sẽ trở lại những câu trả lời cho hai câu hỏi này sau. Trước hết, chúng ta hãy xét Thói quen 3.

Thói
quen 3 là kết quả của cá nhân khi áp dụng Thói quen 1 và Thói quen 2
vào thực tế. Thói quen 1 nói: “Bạn là người sáng tạo, bạn chịu trách
nhiệm”. Nó dựa trên bốn thiên tư riêng của con người: tưởng tượng, lương tâm, ý chí độc lập và đặc biệt là khả năng tự nhận thức.
Nó cho bạn quyền được nói: “Đó là một chương trình yếu kém mà tôi làm
ra từ tuổi ấu thơ, từ tấm gương xã hội của tôi. Tôi không thích kịch
bản vô hiệu này nữa. Tôi có thể thay đổi”. Thói quen 2 là sáng tạo thứ
nhất hoặc sáng tạo tinh thần. Nó dựa trên tưởng tượng là khả
năng nhìn thấy hình ảnh mà mình hình dung ra, nhìn thấy tiềm năng cùng
với ý nghĩ tạo ra cái mà hiện nay ta không thể nhìn thấy bằng mắt; và lương tâm
là khả năng phát hiện cái duy nhất của riêng ta và các nguyên tắc chỉ
đạo cá nhân, tinh thần, đạo đức mà chúng ta có thể thực hiện một cách
vui vẻ nhất. Đó là sự tiếp xúc sâu xa với các mẫu cơ bản và giá trị của
chúng ta, với hình ảnh của cái mà chúng ta có thể trở thành do chúng ta
hình dung ra.

Thói
quen 3 là sáng tạo thứ hai, sáng tạo vật chất. Nó là sự hoàn thành, sự
biến thành hiện thực, sự nổi lên tự nhiên của các Thói quen 1 và 2. Đó
là sự tập dượt của ý chí độc lập để trở thành trung tâm nguyên lý. Sự tập dượt này phải kiên trì, ngày này qua ngày khác.

Thói
quen 1 và 2 là tuyệt đối cần thiết, là tiên quyết cho Thói quen 3. Bạn
không thể lấy nguyên lý làm trung tâm nếu trước hết bạn không biết và
không phát triển bản chất tích cực của bạn. Bạn không thể lấy nguyên lý
làm trung tâm nếu trước hết bạn không biết mẫu của bạn và hoán vị chúng
như thế nào và xếp chúng ngang hàng với các nguyên lý. Bạn không thể
lấy nguyên lý làm trung tâm nếu không hình dung ra một hình ảnh của sự
cống hiến duy nhất của bạn và tập trung vào hình ảnh đó.

Trên cơ sở này, bạn có thể
trở thành người lấy nguyên lý làm trung tâm bằng cách dần dần, ngày này
qua ngày khác, thực hiện Thói quen 3, tức là thực hành cách tự quản lý
có hiệu quả.

Nên
nhớ rằng quản lý khác hẳn lãnh đạo. Lãnh đạo là chủ yếu hoạt động có
công suất cao của não phải. Nó còn hơn là một nghệ thuật. Nó dựa trên
một triết lý. Bạn phải đặt ra những câu hỏi cuối cùng của cuộc sống khi
bạn giải quyết các vấn đề lãnh đạo cá nhân.

Nhưng
một khi bạn đã giải quyết được các vấn đề đó, thì bạn cũng quyết định
chúng, sau đó bạn phải điều khiển bản thân một cách có hiệu quả để tạo
ra một cuộc sống phù hợp với câu trả lời của bạn. Khả năng quản lý tốt
không khác mấy khi bạn không ở trong “rừng đúng”. Nhưng khi bạn ở trong
khu rừng đúng thì lại hoàn toàn khác. Trên thực tế, khả năng quản lý
tốt quyết định chất lượng và cả sự tồn tại của sáng tạo thứ hai. Quản
lý là sự đập nhỏ ra, phân tích, phối hợp, ứng dụng đặc trưng, là mặt
giới hạn thời gian của não trái trong sự tự quản có hiệu quả. Phương
châm tính hiệu quả của cá nhân bản thân tôi là: Quản lý ở bên trái, lãnh đạo ở bên phải.

SỨC MẠNH CỦA Ý CHÍ ĐỘC LẬP

Cùng với khả năng tự ý thức, tưởng tượng và lương tâm là thiên tư thứ của con người – ý chí độc lập,
nó thực sự làm cho sự tự quản lý có hiệu quả. Đó là khả năng lựa chọn,
quyết định và hành động hơn là làm theo, là tích cực thực hiện chương
trình mà chúng ta đã phát triển qua các thiên tư kia.

Ý
chí con người là một thứ kỳ lạ. Hết lần này đến lần khác, nó chiến
thắng những xung đột khó tin. Hellen Kellers đã cho những bằng chứng
gây ấn tượng sâu sắc về giá trị, về sức mạnh của ý chí độc lập.

Nhưng
khi chúng ta xem xét thiên tư này trong khung cảnh của tự quản lý có
hiệu quả, chúng ta nhận ra rằng nó không phải khi nào cũng là nỗ lực to
lớn, nhìn thấy được, sự nỗ lực một lần trong đời; sự nỗ lực để tự vươn
lên đem lại thành công lâu bền. Chúng ta trở thành người có khả năng
qua học tập sử dụng thiên tư to lớn này trong khi quyết định những công
việc hàng ngày.

Trình
độ phát triển ý chí độc lập của chúng ta trong công việc hàng ngày phải
lấy sự chính trực của chúng ta mà đánh giá. Về cơ bản, sự chính trực là
giá trị mà chúng ta đầu tư vào bản thân mình để “dẫn dắt lời nói của
chúng ta”. Nó là danh dự đối với bản thân, là một phần cơ bản của Đạo
đức Tính cách
, bản chất của sự phát triển tích cực.

Sự quản lý có hiệu quả là đưa những cái quan trọng lên trước.
Khi lãnh đạo quyết định “cái gì là quan trọng” thì quản lý phải “đưa
lên trước”, lúc này qua lúc khác, ngày này qua ngày khác. Quản lý là kỷ
luật, là thực hiện. Từ discipline (kỷ luật) phát sinh từ từ disciple
có nghĩa là học trò, là môn đồ, môn đồ của một triết lý, của một hệ
thống nguyên lý của một hệ thống giá trị, môn đồ của một mục đích cao
cả, môn đồ của một mục tiêu siêu phàm hoặc người đại hiện cho mục tiêu
đó.

Nói
cách khác, khi bạn là người quản lý có hiệu quả bản thân bạn, kỷ luật
là tự thân bạn mà ra. Nó phụ thuộc vào ý chí độc lập của bạn. Bạn là
một môn đồ, là người học trò của những giá trị sâu xa của bạn và nguồn
gốc của chúng. Và bạn có ý chí, có sự chính trực đem cảm nghĩ của bạn,
sự thôi thúc của bạn, tâm trạng của bạn phụ thuộc vào những giá trị đó.

Một
trong những bài tiểu luận mà tôi thích là “Mẫu số chung của sự thành
công” do E.M Ray viết. Ông để cả đời để đi tìm một mẫu số chung của tất
cả những người thành đạt. Ông thấy đó không phải là làm việc tích cực,
là may mắn, là quan hệ nhạy bén với người khác, mặc dầu những cái đó
cũng quan trọng. Một yếu tố hình như vượt lên trên tất cả là hiện thân
của bản chất Thói quen 3 – đưa cái quan trọng nhất lên trước.

“Người
thành đạt có thói quen giải quyết những thất bại của công việc mà họ
không muốn giải quyết”. Ông nhận xét: “Họ cũng không thích làm cái đó
ngay cả khi cần thiết. Nhưng cái họ không thích phụ thuộc vào sức mạnh
của mục đích của họ”.

Sự
phụ thuộc này yêu cầu một mục đích, một nhiệm vụ, một Thói quen 2 có
phương hướng và giá trị rõ ràng, một tiếng trả lời “có” nóng bỏng bên
trong để có thể nói “không” cho những cái khác. Nó cũng yêu cầu ý chí
độc lập, khả năng làm một cái gì đó khi bạn không muốn làm cái đó, khả
năng phụ thuộc vào giá trị của bạn hơn là phụ thuộc vào sức đẩy hoặc sự
ước ao trong một lúc nào đó. Đó là khả năng tác động với sự chính trực
vào sự sáng tạo tích cực nhất của bạn.

BỐN THẾ HỆ QUẢN LÝ THỜI GIAN

Trong
Thói quen 3, chúng ta giải quyết nhiều vấn đề trong lĩnh vực quản lý
cuộc sống và thời gian. Là một nhà nghiên cứu lâu năm trong lĩnh vực
quyến rũ này, cá nhân tôi tin rằng bản chất của suy nghĩ tốt nhất trong
quản lý thời gian có thể tóm tắt trong một câu đơn giản: Tổ chức và thực hiện các ưu tiên.
Câu này bao hàm sự phát triển của ba thế hệ lý thuyết quản lý thời gian
và làm thế nào tốt nhất để nó trở thành trung tâm của một hàng loạt các
tiếp cận và các nguồn tài liệu để nghiên cứu.

Sự
quản lý cá nhân đã phát triển theo một mẫu giống như nhiều lĩnh vực
khác của sự cố gắng của con người. Những đợt phát triển chủ yếu mà
Alvin Toffler gọi là “sóng”, đợt này tiếp sau đợt kia, mỗi đợt lại thêm
một tầm vóc mới. Thí dụ, trong sự phát triển của xã hội, cách mạng công
nghiệp tiếp theo sau cách mạng nông nghiệp, cách mạng thông tin tiếp
theo sau cách mạng công nghiệp. Mỗi cơn sóng liên tiếp tạo ra một đợt
sóng cồn của sự tiến bộ xã hội và cá nhân.

Cũng
vậy, trong lĩnh vực quản lý thời gian, mỗi thế hệ được xây dựng trên
thế hệ trước nó – mỗi thế hệ đưa chúng ta tới sự làm chủ cao hơn cuộc
đời của chúng ta. Con sóng hoặc thế hệ đầu tiên có thể được đặc trưng
bằng các ghi chép và các bản kiểm tra. Đó là một sự cố gắng hình như để
thừa nhận và thâu tóm tất cả những yêu cầu đặt lên thời gian và sức lực
của chúng ta.

Thế
hệ thứ hai có thể được đặc trưng bằng lịch và sổ hẹn. Con sóng này phản
ánh sự cố gắng nhìn lên phía trước, lập bảng giờ giấc cho các sự kiện
và các hoạt động tương lai.

Thế
hệ thứ ba phản ánh lĩnh vực quản lý thời gian hiện hành. Nó thêm vào
những thế hệ trước ý kiến quan trọng về ưu tiên, vể cái giá trị được
làm sáng tỏ, và về sự so sánh tương đối của các hoạt động dựa trên mối
quan hệ của chúng với những giá tri này. Hơn nữa, nó tập trung vào việc
định ra các mục tiêu – mục tiêu lâu dài, mục tiêu trung gian và mục
tiêu ngắn hạn – phù hợp với các giá trị. Nó cũng bao gồm cả quan niệm
về việc lập kế hoạch đặc biệt để hoàn thành những mục tiêu và những
hoạt động đó với giá trị lớn nhất.

Khi
thế hệ thứ ba đã có những cống hiến đáng kể thì người ta bắt đầu nhận
thấy rằng việc định ra giờ giấc “có hiệu quả” và làm chủ thời gian lại
thường phản lại hiệu quả.Trung tâm hiệu quả tạo ra những mong muốn mâu
thuẫn với các cơ hội phát triển những mối quan hệ phong phú, đáp ứng
nhu cầu của con người, và được hưởng những giây phút thanh trong ngày.

Kết
quả là nhiều người quay lại với chương trình quản lý thời gian và lập
kế hoạch… . Họ cảm thấy quá gò bó, quá bị hạn chế và họ “kéo đứa bé ra
khỏi chậu tắm”, quay lại các kỹ thuật của thế hệ thứ nhất hoặc thứ hai
để bảo vệ các mối quan hệ, giây phút thảnh thơi và chất lượng cuộc sống.

Nhưng
có một thế hệ thứ tư nổi lên không thuộc loại này. Nó thừa nhận rằng
“quản lý thời gian” thực sự là một sự dùng sai thuật ngữ. Sự thách thức
không phải là quản lý thời gian, mà là quản lý bản thân chúng ta. Sự
hài lòng phụ thuộc vào ước mơ và thực hiện. Mà mơ ước (và hài lòng) đều
nằm trong Vòng ảnh hưởng của chúng ta.

Mong muốn của thế hệ thứ tư là tập trung vào việc gìn giữ và nâng cao các mối quan hệ và việc thực hiện các kết quả hơn hơn là tập trung vào sự việcthời gian, tóm lại giữa cân đối P/PC.

GÓC PHẦN TƯ II

Trung
tâm chủ yếu của thế hệ thứ tư về quản lý có thể tóm tắt trong ma trận
quản lý thời gian sơ đồ hóa ở trang sau. Về cơ bản, chúng ta dùng thời
gian bằng một trong bốn cách.

Như các bạn thấy, hai yếu tố xác định tính chất của một hoạt động là khẩn cấpquan trọng. Khẩn cấp
là yêu cầu chú ý ngay. Nó là “ngay bây giờ”. Cái khẩn cấp tác động vào
chúng ta. Một hồi chuông điện thoại là khẩn cấp. Nhiều người không chịu
đựng được ý nghĩ để cho chuông điện thoại kêu mãi.

Nếu
bạn phải gọi điện thoại cho ai, ít có người nói: “Tôi sẽ nói chuyện với
anh 15 phút sau, hãy cầm máy chờ nhé”. Nhưng chính người đó lại để bạn
chờ trong văn phòng ít nhất một khoảng thời gian bằng thời gian nói
xong chuyện với người khác.

Những
vấn đề khẩn cấp thường nhỉn thấy được. Chúng thúc ép chúng ta; chúng
nhấn mạnh vào hành động. Chúng thường ở ngay trước mắt chúng ta. Và
thường thường chúng là thú vị, dễ dàng, được làm một cách vui vẻ. Nhưng
do đó, chúng thường không quan trọng.

Quan trọng,
mặt khác, là phải làm có kết quả. Nếu một việc gì đó là quan trọng, nó
góp phần vào nhiệm vụ của bạn, giá trị của bạn, các mục tiêu có ưu tiên
cao của bạn.

Chúng ta phản ứng với
những vấn đề cấp bách. Những vấn đề quan trọng mà không cấp bách yêu
cầu nhiều sáng kiến hơn, nhiều tính tích cực hơn. Chúng ta phải hành động để
nắm lấy cơ hội, để cho sự việc xảy ra. Nếu chúng ta không thực hành
Thói quen 2, nếu chúng ta không có một ý niệm rõ ràng về cái gì là quan
trọng, về các kết quả mà chúng ta mong muốn trong cuộc đời, chúng ta dễ
dàng chệch hướng khi giải quyết cái cấp bách.

Hãy
xem xét một lát bốn góc phần tư của ma trận quản lý thời gian. Góc phần
tư thứ I vừa cấp bách vừa quan trọng. Nó đối phó với những kết quả quan
trọng yêu cầu phải chú ý ngay. Chúng ta thường gọi các hoạt động torng
góc phần tư thứ I là “khủng hoảng” hoặc “vấn đề”. Tất cả chúng ta đều
có một số hoạt động trong góc phần tư thứ I trong cuộc sống của chúng
ta. Nhưng góc phần tư thứ I đặc biệt liên quan đến một số người. Họ là
những người quản lý các vụ khủng hoảng, những người lưu tâm đến các vấn
đề, những người sản xuất đến hạn phải trả nợ.

Bạn
tập trung vào góc phần tư thứ I càng lâu, thì nó càng lớn lên cho đến
khi nó lấn át bạn. Nó giống như một đợt sóng cồn. Một vấn đề to lớn đến
xô ngã bạn và bạn bị quét đi. Bạn đứng dậy chiến đấu với một đợt sóng
khác, nó xô ngã bạn và bạn lại bị ném xuống đất.

Một
số người thực sự ngày nào cũng bị những vấn đề hàng ngày truy đuổi. Sự
khuây khỏa duy nhất của họ là trốn vào những việc không quan trọng và
không khẩn cấp của góc phần tư thứ IV, vì vậy khi nhìn vào ma trận tổng
hợp của họ, 90% thời gian của họ nằm trong góc phần tư thứ I, phần lớn
của 10% còn lại nằm trong góc phần tư thứ IV, chỉ có một phần không
đáng kể cho góc II và góc III. Đó là cách những người quản lý cuộc đời
của họ bằng những cuộc khủng hoảng.

Những
người khác lại mất nhiều thời gian cho những cái “cấp bách nhưng không
quan trọng” của góc III, tưởng rằng chúng ở góc I. Họ mất nhiều thời
gian để phản ứng lại những cái khẩn cấp, cho rằng chúng cũng quan
trọng. Nhưng sự thật là tính khẩn cấp của những vấn đề này lại dựa trên
sự ưu tiên và sự mong muốn của người khác.

Những người chỉ dành thời gian giải quyết các vấn đề ở góc III và IV chủ yếu sống vô trách nhiệm.

Những
người thành đạt đứng ngoài góc III và góc IV, bởi vì có cấp bách hay
không, chúng cũng không quan trọng. Họ cũng rút góc I nhỏ lại để đầu tư
thời gian cho góc II.

Góc
phần tư thứ II là trái tim quản lý cá nhân có hiệu quả. Nó giải quyết
những vấn đề không cấp bách nhưng quan trọng. Nó giải quyết các vấn đề
như xây dựng mối quan hệ, viết bản công bố nhiệm vụ cá nhân, lập kế
hoạch dài hạn, tập dượt, bảo quản, dự phòng, chuẩn bị. Chúng ta biết
rằng tất cả những cái này đều cần phải làm, nhưng không biết tại sao ít
người sẵn sàng làm, có lẽ bởi vì chúng không cấp bách.

Peter
Drucker giải thích rằng người thành đạt không phải là người lưu tâm đến
vấn đề; họ là người lưu tâm đến cơ hội. Họ no cơ hội và đói vấn đề. Họ
suy nghĩ với sự đề phòng. Họ có những cơn khủng hoảng và việc khẩn cấp
thật sự trong góc I cần phải chú ý ngay, nhưng số lượng tương đối ít.
Họ cân đối P và PC vào những hoạt động có khả năng xây dựng, có tác
dụng đòn bẩy cao của góc II.

Với
ma trận quản lý thời gian trong đầu, bây giờ bạn hãy dành một ít thời
gian xem sẽ trả lời những câu hỏi đầu chương này như thế nào. Chúng
thích hợp với góc phần tư nào? Chúng có quan trọng không? Chúng có cấp
bách không?

Tôi
đoán chúng thích hợp với góc phần tư thứ II. Chúng rõ ràng là quan
trọng, hết sức quan trọng nhưng không cấp bách. Và vì chúng không cấp
bách nên bạn không làm.

Bây
giờ ta hãy xem lại bản chất của những câu hỏi này: Điều gì bạn có thể
làm trong cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp của bạn, nếu bạn làm một
cách thường xuyên, sẽ làm cho cuộc sống cá nhân của bạn thay đổi theo một hướng tích cực. Các hoạt động trong góc phần tư thứ II có loại ảnh hưởng này. Bạn sẽ thành công lớn khi thực hiện chúng.

Tôi
đặt câu hỏi tương tự cho một nhóm giám đốc các trung tâm thương mại:
“Nếu bạn phải làm một việc gì đó trong công việc nghề nghiệp của bạn mà
bạn biết sẽ có ảnh hưởng tích cực đến các kết quả thì việc đó là gì?”.
Hầu hết câu trả lời của họ là xây dựng những mối quan hệ cá nhân có ích
với những người thuê cửa hàng, những người chủ cửa hàng trong trung tâm
thương mại, nằm trong các hoạt động của góc phần tư thứ II.

Chúng
tôi phân tích thời gian mà họ đã đầu tư cho hoạt động này. Nó ít hơn
5%. Họ có lý lẽ vững vàng các vấn đề cần giải quyết lần lượt cái này
sau cái khác. Họ phải làm báo cáo, phải đi họp, phải trả lời thư từ,
phải gọi điện thoại, luôn luôn bị cắt dở dang … Góc I nuốt hết thời
gian của họ.

Họ
chỉ đầu tư rất ít cho các chủ cửa hàng, và thời gian đó cũng được thực
hiện ít hiệu quả. Lý do duy nhất họ đi thăm các chủ cửa hàng không
ngoài việc thi hành hợp đồng – tức là thu tiền hoặc báo cho biết một
cuộc thảo luận hoặc một việc gì đó không ăn nhập gì với đường lối chỉ
đạo của trung tâm hoặc cái gì tương tự.

Các
chủ cửa hàng đang đấu tranh để tồn tại, nói chi đến phát tài. Họ có các
vấn đề việc làm, vấn đề chi phí, vấn đề hàng tồn kho và một loạt các
vấn đề khác. Phần lớn trong số họ không được đào tạo về quản lý. Một số
trong họ là những người buôn bán khá tốt, nhưng họ cần được giúp đỡ.
Những người thuê cửa hàng không muốn gặp những người chủ trung tâm
thương mại, họ có nhiều vấn đề phải đấu tranh.

Cho nên, những người chủ quyết định phải tích cực. Họ xác định mục đích, giá trị, ưu tiên của họ. Phù hợp với những ưu tiên này, họ quyết định bỏ vào khoảng một phần ba thời gian để giữ mối quan hệ với những người thuê cửa hàng.

Làm
việc với tổ chức này khoảng một năm rưỡi, tôi thấy họ lãi khoảng 20%,
tức tăng hơn bốn lần. Thêm vào đó, họ thay đổi vai trò của họ. Họ trở
thành thính giả, huấn luyện viên, cố vấn của những người thuê cửa hàng.
Sự trao đổi giữa họ với nhau đã đem lại hiệu quả cao.

Ảnh
hưởng thật to lớn, sâu sắc. Nhờ tập trung vào các mối quan hệ và kết
quả chứ không phải là vào thời gian và phương pháp, con số tăng lên,
những người thuê cửa hàng xúc động vì kết quả do những ý kiến mới và kỹ
năng mới đưa lại, các giám đốc thương mại làm việc có hiệu quả hơn, vừa
lòng hơn. Họ tăng danh sách những người có thể thuê cửa hàng và số thu
nhập của các hợp đồng cho thuê, dựa trên số hàng các người thuê của
hàng bán tăng lên. Họ không cần cảnh sát hoặc những người giám sát lẩn
quẩn đó đây nữa. Chỉ còn những người đi giải quyết vấn đề, đi giúp đỡ.


bạn là người nghiên cứu ở trường đại học, là người thợ trong một dây
chuyền lắp ráp, là người nội trợ, là người thiết kế thời trang hoặc chủ
tịch một công ty, tôi tin rằng nếu bạn chú tâm đến những cái trong góc
phần tư thứ II, và bồi dưỡng tích cực để làm những cái đó, bạn cũng sẽ
đạt được những kết quả như vậy. Bạn sẽ làm việc rất có hiệu quả. Những
sự khủng hoảng và các vấn đề của bạn sẽ co lại đến mức có thể giải
quyết được bởi vì bạn đang nghĩ về phía trước, bạn đang tác động vào
gốc rễ, đang phòng ngừa và đặt sự phát triển lên hàng đầu trong cơn
khủng hoảng. Nói theo tiếng lóng của quản lý thời gian, cái đó gọi là
Nguyên lý Patero 80% kết quả xuất phát từ 20% hoạt động.

PHẢI TỪ CHỐI CÁI GÌ?

Nơi
duy nhất lấy thời gian cho góc thứ II lúc bắt đầu là các góc III và IV.
Bạn không thể bỏ qua những hoạt động khẩn cấp và quan trọng của góc I,
mặc dầu nó có thể co lại khi bạn mất nhiều thời gian hơn để đề phòng và
chuẩn bị trong góc II. Nhưng thời gian ban đầu cho góc II phải rút ra
từ góc III và IV.

Bản
phải tác động tích cực vào góc II bởi vì các góc I và III tác động vào
bạn. Để giải quyết những ưu tiên ở góc II, bạn phải học từ chối các
hoạt động khác, đôi khi có vẻ là cấp bách.

Một
thời gian trước đây, vợ tôi được mời làm chủ tịch một ủy ban trong một
cố gắng cộng đồng. Cô ấy có một số việc thực sự quan trọng phải làm nên
không muốn làm, nhưng do cảm thấy bị thúc ép nên cuối cùng đã nhận lời.

Sau
đó, cô ấy gọi điện cho một người bạn thân xem có đến đây làm việc được
không. Người bạn nghe một hồi lâu rồi nói: “Chị Sandra ơi, nghe có vẻ
là một dự án thần kỳ đấy, một việc kinh doanh đáng tiền! Em đánh giá
cao lời mời của chị cho em góp phần, em cảm thấy vinh dự. Do nhiều lý
do, em không thể tham gia được, nhưng em muốn chị biết cho rằng em đánh
giá lời mời của chị cao biết chừng nào!”.

Sandra đã sẵn sàng mọi thứ trừ câu đáp “Không được”. Cô ấy nhìn tôi thở dài: “Em ước ao đã nói như vậy”.

Tôi
không muốn ngụ ý rằng bạn không nên tham gia các đề án dịch vụ quan
trọng. Những việc đó đều đáng làm. Nhưng bạn phải quyết định ưu tiên
cao nhất của bạn là gì và can đảm – vui vẻ, tươi cười, không hối lỗi –
từ chối những cái khác, và để làm được như vậy, bạn phải có một quyết
tâm lớn hơn bùng cháy trong nội tâm. Kẻ thù của cái “tốt nhất” thường
là cái “tốt”.

Hãy
ghi nhớ bạn phải luôn sẵn sàng từ chối một cái gì đó. Nếu không là
những cái rõ ràng cấp bách của cuộc sống của bạn thì cũng là cái cơ bản
hơn, quan trọng hơn. Ngay cả khi cái cấp bách là tốt, cái tốt có thể
không cho bạn làm cái tốt nhất, không cho bạn thực hiện sự cống hiến
duy nhất của bạn.

Khi
tôi là giám đốc đại học quan hệ trong một trường đại học lớn, tôi thuê
một người thư ký có tài, tích cực, sáng tạo. Một hôm, sau khi anh ta
đến làm việc vài tháng, tôi vào văn phòng của anh ta, yêu cầu anh làm
một số việc cấp bách. Anh ta nói: “Ông Stephen, tôi sẽ làm những gì ông
muốn. Còn bây giờ xin ông cho phép tôi trao đổi với ông về tình hình
của tôi”. Anh dẫn tôi đến trước ván lát tường, ở đó đã ghi hơn hai chục
dự án mà anh đang thực hiện cùng với các tiêu chuẩn thành tích và thời
hạn hoàn thành được bàn bạc rõ ràng trước. Anh ta là người có kỷ luật
cao, vì vậy mà tôi tìm anh ta từ đầu. “Nếu bạn muốn được việc thì hãy
giao việc cho người nhiều việc”.

Sau
đó, anh nói: “Ông Stephen, việc ông muốn làm phải mất nhiều ngày. Vậy
trong những dự án này ông muốn tôi hoãn hoặc hủy đề án nào để thỏa mãn
yêu cầu của ông?”.

Thế
đó, tôi không muốn gánh lấy trách nhiệm về việc này. Tôi không muốn
thọc gậy bánh xe của một con người có năng suất cao nhất trong số nhân
viên của tôi bởi vì tôi đang cần kiềm chế khủng hoảng vào lúc đó. Việc
tôi định giao là cấp bách, nhưng không quan trọng, cho nên tôi tìm
người quản lý khủng hoảng khác và giao việc này.

Hàng
ngày, chúng ta từ chối hoặc nhận làm các công việc thường là nhiều lần
trong một ngày. Một trung tâm các nguyên lý đúng đắn và một sự tập
trung vào nhiệm vụ cá nhân của chúng ta sẽ cho chúng ta sự khôn ngoan
để quyết đoán một cách có hiệu quả.

Khi
làm việc với nhiều nhóm khác nhau, tôi bảo họ rằng bản chất của sự quản
lý hữu hiệu thời gian và cuộc sống là tổ chức và thực hiện những ưu
tiên đã được cân đối. Sau đó tôi hỏi: “Trong ba thiếu xót sau đây, nếu
có thi các ông có thiếu sót gì? 1. Không xác định được ưu tiên; 2. Không có khả năng hoặc không muốn tổ chức cho các ưu tiên đó; 3. Thiếu rèn luyện kỷ luật để thực hiện chúng, để tiếp tục các ưu tiên và tổ chức.

Đa
số trả lời rằng cái họ thiếu chủ yếu là thiếu kỷ luật. Suy nghĩ sâu
hơn, tôi tin rằng không phải như vậy.Vấn để cơ bản là các ưu tiên của
họ không ăn sâu vào tim, óc họ. Họ chưa thực sự tiếp thu được Thói quen
2.

Nhiều
người thừa nhận giá trị của các hoạt động ở góc II trong cuộc sống của
họ, dù họ xác định được chúng hay không. Và họ cố gắng dành ưu tiên cho
các hoạt động này và lồng ghép chúng vào cuộc sống của họ chỉ nhờ tính
kỷ luật tự giác. Nhưng không có một trung tâm nguyên lý và một bản công
bố nhiệm vụ cá nhân, họ không có được nền tảng cần thiết để duy trì
những cố gắng của họ. Họ làm việc do được phép, do có thói quen có kỷ
luật, không nghĩ đến xem xét gốc rễ, các mẫu cơ bản từ đó xuất phát
những thái độ và hành vi của họ.

Tiêu
điểm của góc II là một mẫu xuất phát từ trung tâm nguyên lý. Nếu bạn
lấy người bạn đời mình làm trung tâm hoặc lấy tiền bạc, bạn bè, vui
chơi hay bất kỳ yếu tố ngoại lai nào làm trung tâm, bạn cũng sẽ bị đẩy
lùi về góc I và III để chống lại những sức mạnh nhằm vào cuộc sống của
bạn. Ngay cả khi bạn lấy bản thân làm trung tâm, thì bạn cũng kết thúc
ở góc I và III để chống lại sự thôi thúc của tình thế. Một mình ý chí
độc lập của bạn không thể ghép bạn vào kỷ luật một cách có hiệu quả
chống lại trung tâm của bạn.

Nói theo châm ngôn ngành kiến trúc, hình thức theo sau chức năng.
Cũng vậy, quản lý theo sau lãnh đạo. Bạn sử dụng thời gian như thế nào
là do bạn nhìn nhận thời gian ra sao và nhìn nhận các ưu tiên của bạn
một cách thực sự. Nếu các ưu tiên của bạn xuất phát từ một trung tâm
nguyên lý và một bản công bố nhiệm vụ cá nhân, nếu chúng được in sâu
vào tim óc của bạn thì bạn sẽ nhìn góc II như một vị trí tự nhiên, hấp
dẫn để đầu tư thời gian của bạn.

Hầu
như không thể nào chối bỏ được tính phổ biến của góc II hoặc ý thích
trốn ngược sang góc IV nếu bạn không có một quyết tâm lớn hơn, nóng
bỏng ở trong bạn. Chỉ khi bạn có khả năng tự nhận thức để xem xét
chương trình của bạn, và cả trí tưởng tượng và lương tâm nữa, để tạo
nên một chương trình mới duy nhất, có trung tâm nguyên lý mà bạn chấp
nhận được, chỉ khi đó, bạn mới có đầy đủ ý chí độc lập để từ chối với
một nụ cười thích hợp những cái không quan trọng.

CHUYỂN SANG GÓC PHẦN TƯ THỨ II

Nếu các hoạt động của góc II rõ ràng là trái tim của quản lý cá nhân
có hiệu quả – “những việc quan trọng” mà chúng ta phải đưa lên trước
tiên – thì chúng ta phải tổ chức và thực hiện việc này như thế nào.

Thế
hệ thứ nhất của quản lý thời gian thì không thừa nhận quan niệm về ưu
tiên. Nó cho ta những ghi chép và lập danh sách các công việc. Những
công việc này chúng ta có thể xóa bỏ. Và mỗi khi chúng ta tìm ra một
việc nào đó thì chúng ta lại cảm thấy việc hoàn thành nó chỉ có ý nghĩa
tạm thời, không có một ưu tiên nào gắn bó với các hạng mục trên danh
sách. Hơn nữa không có sự liên quan qua lại nào giữa cái trên danh sách
và những giá trị và mục đích cuối cùng của cuộc sống của chúng ta. Đơn
giản chúng ta chỉ phản ứng lại những gì đến với nhận thức của chúng ta
vá bề ngoài thấy cần phải làm.

Nhiều
người quản lý theo mẫu của thế hệ thứ nhất này. Đó là một quá trình ít
cố gắng nhất. Không trăn trở, không căng thẳng, cứ để “nước chảy bèo
trôi”. Áp đặt kỷ luật và thời gian biểu một cách hời hợt, lớt phớt, cho
người ta cảm nghĩ rằng mình không chịu trách nhiệm về kết quả.

Nhưng,
theo định nghĩa, những người quản lý theo thế hệ thứ nhất không phải là
những người thành đạt. Họ sản xuất rất ít và cách sống của họ không làm
gì để xây dựng khả năng sản xuất của họ. Chống chọi với sức mạnh bên
ngoài, thì họ thường được coi là không đáng tin cậy, không có trách
nhiệm và ít có ý thức về tự chủ và tự trọng.

Những
người quản lý theo thế hệ thứ hai tự chủ hơn một ít. Họ đặt kế hoạch và
thời gian biểu trước và thường được coi là có trách nhiệm hơn bởi vì họ
“xuất đầu lộ diện” khi cho rằng phải có mặt.

Nhưng,
các hoạt động mà họ định ra thời gian biểu không có ưu tiên hoặc không
có tương quan với những giá trị sâu xa và với các mục tiêu. Họ chỉ có
một ít thành tích đáng kể và có xu hướng sắp xếp chương trình có định
hướng.

Những
nhà quản lý thế hệ thứ ba tiến một bước quan trọng về phía trước. Họ
làm sáng tỏ giá trị và mục tiêu của họ. Họ có kế hoạch hàng ngày và xác
định các ưu tiên cho các hoạt đông của họ.

Như
tôi đã nói, đây là phần lớn cách quản lý thời gian ngày nay. Nhưng, thế
hệ thứ ba này có một số hạn chế nguy hiểm. Thứ nhất, nó hạn chế tầm
nhìn – việc lập kế hoạch này thường bỏ xót những việc chỉ có thể thấy
được ở một góc nhìn lớn hơn. Ngôn từ “tập trung hàng ngày” tập trung
vào cái cấp bách, cái “bây giờ”. Khi thế hệ thứ ba đã đặt ra vấn đề ưu
tiên cho các hoạt động thì không có vấn đề đặt lên hàng đầu tầm quan
trọng chủ yếu của các hoạt động – nó không đặt các hoạt động trong
khung cảnh của các nguyên lý, của nhiệm vụ cá nhân, của vai trò và mục
tiêu. Tiếp cận lập kế hoạch hàng ngày theo sự hướng dẫn về giá trị của
thế hệ thứ ba cơ bản dành ưu tiên cho các vấn đề ở góc I và góc III và
các việc gay cấn hàng ngày.

Hơn
nữa, thế hệ thứ ba không chuẩn bị cho các vai trò quản lý một cách cân
đối. Nó thiếu tính thực tế, tạo ra xu hướng lập thời khóa biểu quá tỉ mỉ dẫn
đến sự đổ vỡ và tạo ra tâm lý có dịp là vứt bỏ kế hoạch, nhảy sang góc
IV. Và trung tâm quản lý thời gian, quản lý hiệu quả của nó có xu hướng
thắt chặt quan hệ hơn là xây dựng quan hệ.

Trong
khi cả ba thế hệ, thế nào cũng thừa nhận giá trị của vài loại công cụ
quản lý, thì không có cái nào sản xuất ra được một công cụ làm cho con
người sống theo trung tâm nguyên lý, lối sống của góc II. Sự ghi chép
và lên danh sách của thế hệ thứ nhất cho ta không gì hơn ngoài một chỗ
đứng để nắm bắt những cái đi vào nhận thức của chúng ta để khỏi quên
chúng. Các cuộc hẹn gặp và lịch của thế hệ thứ hai đơn thuần giúp chúng
ta ghi nhớ những cam kết của chúng ta trong tương lai để chúng ta bố
trí thời gian thích hợp.

Ngay
cả thế hệ thứ ba, với một đội ngũ rộng lớn các nhà làm kế hoạch và tư
liệu, cũng vẫn tập trung chủ yếu giúp xác định ưu tiên và đặt kế hoạch
hoạt động ở góc I và III. Mặc dầu nhiều nhà đào tạo và cố vấn đều thừa
nhận giá trị của các hoạt động ở góc II – các công cụ lập kế hoạch hiện
tại của thế hệ thứ ba vẫn không giúp cho việc tổ chức và thực hiện
chúng được dễ dàng.


mỗi thế hệ xây dựng trên những cái có trước nó, nên sức mạnh và một số
công cụ của mỗi một trong ba thế hệ đó cung cấp tư liệu cho thế hệ thứ
tư. Tuy nhiên, phải tăng thêm cho mẫu và sự thực hiện mẫu một tầm vóc
mới, như vậy chúng ta mới có đủ sức mạnh để bước vào góc II, để trở
thành người sống theo nguyên lý, để bắt bản thân mình làm cái thực sự
quan trọng nhất.

CÔNG CỤ CỦA GÓC PHẦN TƯ THỨ II

Mục
tiêu của quản lý ở góc II là quản lý cuộc sống của chúng ta một cách có
hiệu quả từ một trung tâm các nguyên lý đúng đắn, từ một nhận thức
trách nhiệm cá nhân, tập trung vào cái quan trọng cũng như cái khẩn cấp
nhưng vẫn giữ được sự cân đối giữa việc phải tăng sản phẩm và tăng khả
năng sản xuất.

Phải
thừa nhận rằng đây là một mục tiêu tham lam của những người bị mắc vào
cái lớn của những cái nhỏ trong góc III và IV. Nhưng cố gắng hoàn thành
nó thì sẽ có một ảnh hưởng phi thường đối với sự thành công của cá nhân.

Một người tổ chức góc II cần phải đáp ứng sáu tiêu chuẩn quan trọng.

SỰ
CHẶT CHẼ. Sự chặt chẽ nói lên rằng có sự hài hòa, sự thống nhất và sự
toàn vẹn giữa ước mơ và nhiệm vụ của bạn, giữa vai trò và mục tiêu của
bạn, giữa những ưu tiên và kế hoạch của bạn, giữa ham muốn và kỷ luật
của bạn. Trong người đặt kế hoạch của bạn có chỗ cho bản công bố nhiệm
vụ cá nhân của bạn để bạn luôn luôn tham chiếu. Cũng cần phải có chỗ
cho các vai trò của bạn và các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn.

SỰ
CÂN ĐỐI. Công cụ của bạn có thể giúp bạn giữ được cân đối trong cuộc
sống, xác định các vai trò của bạn và để chúng trước mắt bạn để bạn
không lơ là những lĩnh vực quan trọng như sức khỏe của bạn, gia đình
của bạn, sự chuẩn bị nghề nghiệp hay sự phát triển cá nhân.

Nhiều
người hình như nghĩ rằng thành công ở lĩnh vực này sẽ bù cho thất bại ở
lĩnh vực khác của cuộc sống. Nhưng thành công trong nghề nghiệp của bạn
có bù đắp được tan vỡ trong hôn nhân, sự hủy hoại sức khỏe hoặc sự nhu
nhược trong tính cách của bạn không? Tính hiệu quả đích thức yêu cầu sự
cân đối và công cụ của bạn cần giúp bạn tạo ra và duy trì sự cân đối đó.

TRUNG
TÂM CỦA GÓC II. Bạn cần một công cụ khuyến khích bạn, thúc đẩy bạn,
thực sự giúp bạn sử dụng thời gian bạn cần trong góc II, để giải quyết
phòng ngừa hơn là dành ưu tiên cho các khủng hoảng. Theo tôi, cách tốt
nhất để làm được điều này là tổ chức cuộc sống của bạn theo từng tuần
lễ. Bạn còn có thể thích nghi và ưu tiên theo kế hoạch hàng ngày, nhưng
chủ yếu vẫn là tổ chức theo tuần.

Tổ
chức kế hoạch tuần lễ đưa lại sự cân đối lớn và phạm vi tốt hơn là kế
hoạch hàng ngày. Hình như có một sự thừa nhận tiềm ẩn rằng tuần lễ là
một thời gian hoàn chỉnh đơn nhất. Kinh doanh, giáo dục và nhiều mặt
khác nữa của xã hội hoạt động trong khuôn khổ tuần lễ, xác định một số
ngày để tập trung đầu tư và một số ngày khác để nghỉ ngơi hoặc tìm cảm
hứng. Đạo đức Do Thái – Cơ Đốc tôn vinh ngày Chủ nhật, một ngày trong
bảy ngày để nâng cao tinh thần.

Đa
số suy nghĩ theo tuần lễ. Nhưng đa số những công cụ, kế hoạch thuộc thế
hệ thứ ba lại tập trung kế hoạch hàng ngày. Dù có thể giúp bạn xác định
được ưu tiên cho các hoạt động của bạn, nhưng về cơ bản, nó chỉ giúp
được bạn sắp xếp các việc khó khăn, bận rộn. Vấn đề then chốt không phải là dành ưu tiên cho cái gì trên lịch công tác của bạn mà là vạch lịch cho những ưu tiên của bạn. Việc này chỉ có làm tốt nhất trong phạm vi một tuần lễ.

KHÍA
CẠNH “CON NGƯỜI”. Bạn cũng cần một công cụ ứng phó với con người, chứ
không chỉ lập thời gian biểu. Trong khi bạn suy nghĩ về hiệu quả ứng
phó với thời gian thì một người lấy nguyên lý làm trung tâm sẽ suy nghĩ
về tính hiệu quả khi ứng phó với con người. Có những khi cuộc sống theo
góc II lấy nguyên lý làm trung tâm yêu cầu thời gian biểu phụ thuộc vào
con người. Công cụ của bạn cần phản ánh giá trị này để cho việc thực
hiện được dễ dàng chứ không phải để tạo ra những sai lầm khi không có
một thời gian biểu đi kèm.

TÍNH
LINH HOẠT. Công cụ lập kế hoạch của bạn phải là đầy tớ, không bao giờ
được là chủ của bạn. Bởi vì nó làm việc cho bạn, nó sẽ theo phong cách
của bạn, nhu cầu của bạn, phương pháp đặc biệt của bạn.

TÍNH
CÓ THỂ MANG THEO. Công cụ của bạn có thể mang theo để bạn có thể có nó
bên mình trong phần lớn thời gian. Bạn có thể muốn xem lại bản công bố
nhiệm vụ cá nhân khi đi xe buýt. Bạn có thể đem so sánh giá trị của một
cơ hội mới với cái gì đó mà bạn đã có kế hoạch. Nếu công cụ của bạn có
thể mang theo được, bạn sẽ mang theo nó để lúc nào bạn cũng thấy được
những số liệu quan trọng.

Bởi vì góc II là trái tim của tự quản lý có hiệu quả, bạn cần một công cụ dựa vào góc II. Tôi
làm việc với quan niệm thế hệ thứ tư và đã sáng tạo ra một công cụ được
thiết kế đặc biệt, phù hợp với các tiêu chuẩn nên trên. Nhưng nhiều
công cụ tốt của thế hệ thứ ba vẫn có thể dễ dàng được chấp nhận. Bởi vì
các nguyên lý vốn mạnh mẽ , nên các thực hành hoặc áp dụng riêng biệt
có thể thay đổi từ người này sang người khác.

TRỞ THÀNH NGƯỜI TỰ QUẢN Ở GÓC PHẦN TƯ THỨ II

Mặc
dầu sự cố gắng của tôi ở đây là giảng giải các nguyên lý chứ không phải
các thực hành về tính hiệu quả, tôi tin rằng bạn có thể hiểu tốt hơn
các nguyên lý và bản chất làm cho có khả năng của thế hệ thứ tư nếu bạn
thực sự thí nghiệm việc tổ chức một tuần lễ từ góc II, lấy nguyên lý
làm trung tâm.

Việc tổ chức góc phần tư thứ II liên quan đến bốn hoạt động chủ chốt.

XÁC
ĐỊNH VAI TRÒ. Việc đầu tiên là viết ra các vai trò chủ chốt của bạn.
Nếu bạn không thực sự suy nghĩ một cách nghiêm túc về các vai trò trong
cuộc sống của bạn, bạn có thể viết ngay những gì đến trong đầu bạn. Bạn
có vai trò của một cá nhân. Bạn có thể có một hoặc nhiều vai trò như
thành viên gia đình, chồng hoặc vợ, bố hoặc mẹ, con trai hoặc con gái;
một thành viên của đại gia đình – ông bà, cô dì, chú bác, anh em họ.
Bạn có thể liệt kê một số vai trò trong công việc, chỉ ra những lĩnh
vực bạn muốn đầu tư thời gian và năng lực một cách đều đặn. Bạn có thể
có vai trò trong công việc của giáo hội hoặc của cộng đồng.

Bạn
không cần phải lo lắng xác định vai trò mà bạn sẽ đóng trong phần còn
lại của cuộc đời. Bạn chỉ cần xem xét một tuần lễ và viết ra các lĩnh
vực mà bạn sẽ đầu tư thời gian trong bảy ngày tiếp theo.

Sau đây là hai thí dụ mà một người có thể nhìn nhận các vai trò của mình.

CHỌN
MỤC TIÊU. Bước tiếp theo là suy nghĩ hai hoặc ba kết quả quan trọng mà
bạn cảm thấy có thể đạt được trong bảy ngày tiếp theo. Những kết quả đó
được coi là mục tiêu (xem bản đồ dưới đây).

Ít
nhất, vài mục tiêu đó được phản ánh trong các hoạt động của góc II. Lý
tưởng là những mục tiêu trước mắt phải gắn với mục tiêu lâu dài mà bạn
đã xác định cùng với bản công bố nhiệm vụ cá nhân của bạn. Nhưng dù cho
bạn không viết bản công bố nhiệm vụ cá nhân, bạn cũng có thể có một cảm
nghĩ, một ý thức về cái gì là quan trọng khi bạn xem xét từng vai trò
của bạn và hai hoặc ba mục tiêu của mỗi vai trò.

LẬP
THỜI GIAN BIỂU. Bây giờ bạn có thể nhìn vào thời gian biểu của bạn với
các mục tiêu trong đầu óc bạn và vạch thời gian để hoàn thành chúng.
Thí dụ, nếu mục tiêu của bạn là viết phác thảo đầu tiên của bạn công bố
nhiệm vụ cá nhân của bạn, bạn có thể để ra hai giờ ngày Chủ nhật để làm
việc đó. Ngày Chủ nhật (hoặc một ngày nào đó trong tuần lễ là đặc biệt đối với bạn, là niềm tin của bạn, là cơ hội của bạn) thường là thời gian lý tưởng để
hoạch ra kế hoạch nâng cao các hoạt động cá nhân, kể cả tổ chức tuần
lễ. Đó là một thời gian tốt để không làm việc gì, để tìm cảm hứng, để
nhìn vào cuộc sống của bạn trong phạm vi các nguyên lý và các giá trị.

Nếu
bạn muốn làm cho một mục tiêu trở thành một sức mạnh vật chất khi thực
hiện, bạn có thể để ba hoặc bốn ngày trong tuần, mỗi ngày một tiếng,
hoặc hàng ngày để thực hiện mục tiêu đó. Có những mục tiêu mà bạn chỉ
có thể hoàn thành trong những giờ làm việc, có những mục tiêu mà bạn
chỉ có thể làm vào ngày Chủ nhật khi các bạn ở nhà. Bạn có thấy lợi thế
của việc tổ chức tuần lễ hơn là tổ chức ngày không?

Khi
đã xác định vai trò và mục tiêu, bạn có thể chuyển mỗi mục tiêu cho mỗi
ngày riêng biệt trong tuần lễ, thành một hạng mục ưu tiên, hoặc hơn
thế, một cuộc hẹn đặc biệt. Bạn cũng có thể ghi lịch năm hoặc lịch
tháng cho bất kỳ cuộc hẹn nào mà bạn dự định trước và đánh giá tầm quan
trọng của chúng trong phạm vi các mục tiêu của bạn, đưa những cái mà
bạn quyết định giữ lại vào lịch và lập kế hoạch để ghi lại hoặc xóa bỏ
những cái khác.

Khi
nghiên cứu lịch công tác hàng tuần sau đây, bạn hãy quan sát mỗi một
mục tiêu trong số 19 mục tiêu quan trọng nhất ở góc II, được ghi vào
lịch hoặc đưa vào một kế hoạch hành động riêng biệt như thế nào. Hơn
nữa bạn phải chú ý đến khung có nhãn “Rửa cưa”, nó tạo ra chỗ đứng cho
việc đổi mới quan trọng các hoạt động ở góc II trong mỗi khía cạnh cảu
bốn khía cạnh của con người được giải thích trong Thói quen 7.

Ngay
cả với thời gian dành riêng để hoàn thành 19 mục tiêu quan trọng trong
tuần, hãy chú ý đến số lượng khoảng trống còn chưa ghi trên tờ kế hoạch
công tác!. Cũng như cho phép bạn đưa cái quan trọng lên trước, việc tổ
chức tuần lễ ở góc II còn cho phép bạn tự do và linh hoạt xử lý các sự
kiện không dự kiến trước, chuyển ngày hẹn nếu bạn cần thưởng thức mối
quan hệ với những người khác, vui hưởng những lúc thanh thản, vì biết
rằng bạn đã tổ chức tích cực tuần lễ của bạn để hoàn thành những mục
tiêu chủ yếu trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.

THÍCH
NGHI HÀNG NGÀY. Khi tổ chức tuần lễ theo góc II, việc lập kế hoạch hàng
ngày càng phụ thuộc vào việc thích nghi hàng ngày, vào việc xác định ưu
tiêu cho các hoạt động và đối phó với những sự kiện, những quan hệ và
những việc xảy ra không dự kiến trước một cách đầy đủ hơn.

Mỗi
buổi sáng, để một ít phút xem lại lịch của bạn, như vậy bạn có thể làm
lại các quyết định dựa trên giá trị khi bạn tổ chức tuần lễ cũng như
khi các yếu tố không dự kiến có thể xảy đến. Khi nhìn bao quát cả ngày,
bạn có thể thấy rằng các vai trò của bạn sẽ xác định các ưu tiên một
cách tự nhiên, xuất phát từ ý thức về sự cân đối vốn có của bạn.

Bạn
còn thấy rằng sự xác định ưu tiên của các thế hệ A, B, C hoặc 1, 2, 3
sắp xếp các hoat động trong ngày theo thứ tự cần thiết. Có thể là một
sự phân tích giả tạo nếu nói rằng các hoạt động đó là quan trọng hay
không quan trọng. Chúng đều nằm trên một đường liên tục và một số hoạt
động này quan trọng hơn số hoạt động kia. Trong phạm vi của tổ chức
tuần lễ, sự xác định ưu tiên thế hệ thứ ba đem lại trật tự cho trung
tâm hoạt động hàng ngày.

Những
cố gắng xác định các hoạt động ưu tiên trước khi bạn biết chúng quan hệ
với ý thức của bạn và nhiệm vụ cá nhân như thế nào và làm thế nào để
chúng phù hợp với cuộc sống của bạn là không có hiệu quả. Bạn có thể
xác định các ưu tiên và hoàn thành những việc mà bạn không muốn làm
hoặc không cần làm tí nào.

Bạn
đã nhìn thấy sự khác nhau về tổ chức tuần lễ của bạn khi là một người
quản lý góc II lấy nguyên lý làm trung tâm và khi là người lập kế hoạch
hàng ngày lấy cá nhân làm trung tâm chưa? Bạn có bắt đầu cảm thấy sự
khác nhau to lớn mà trung tâm góc II tạo ra cho tính hiệu quả hiện tại
của bạn không?

Đã
được khả năng của góc II có trung tâm nguyên lý tác động vào cuộc sống
cá nhân và mục kích sự biến đổi trong cuộc sống của hàng trăm người,
tôi tin rằng có sự thay đổi tích cực đột phá. Và các muc tiêu hàng tuần
càng gắn với các nguyên lý đúng đắn và với bản công bố nhiệm vụ cá nhân
thì tính hiệu quả càng tăng.

THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH

Quay
trở lại một lần nữa với ẩn dụ máy tính, nếu Thói quen 1 bảo: “Anh là
người lập chương trình”. Thói quen 2 bảo: “Hãy viết chương trình”. Thói
quen 3 bảo: “Cho máy chạy đi”, “Thực hiện chương trình”. Và việc thực
hiện đó chủ yếu phụ thuộc vào ý chí độc lập, kỷ luật tự giác, sự chính
trực, sự cam kết của chúng ta, không phải đối với những mục tiêu và
những lịch công tác ngắn hạn hoặc đối với sự thúc đẩy nhất thời, mà đối
với những nguyên lý đúng đắn và những giá trị sâu xa nhất của chúng ta;
những nguyên lý này, những già trị này đem lại ý nghĩa và bối cảnh cho
các mục tiêu, cho lịch công tác và cho cuộc sống của chúng ta.


bạn làm việc suốt cả tuần lễ, chắc chắn có những lúc sự chính trực của
bạn bị thử thách. Tính phổ biến của sự đối phó với những ưu tiên cấp
bách nhưng không quan trọng của những người khác trong góc phần thứ III
hoặc sự thích chạy trốn vào góc phần tư thứ IV sẽ đe dọa áp đảo các
hoạt động quan trọng ở góc phần tư thứ II mà bạn đã có kế hoạch. Trung
tâm nguyên lý của bạn, khả năng tự nhận thức của bạn có thể đem lại cho
bạn sự an toàn nội tâm ở trình độ cao, sự định hướng và sự khôn ngoan
để giúp bạn sử dụng ý chí độc lập của bạn và giữ sự toàn vẹn cho cái
thực sự quan trọng.

Nhưng
bởi vì bạn không phải toàn trí toàn lực, bạn không thể lúc nào cũng
biết trước cái gì là thực sự quan trọng. Mặc dầu đã tổ chức cẩn thận cả
tuần lễ của bạn, là một người có trung tâm nguyên lý lịch của bạn cần
phải phụ thuộc vào những giá trị cao hơn. Bởi vì là người có trung tâm
làm nguyên lý, bạn làm việc đó với sự thanh thản trong lòng.

Đã
đến lúc một đứa con trai tôi quan tâm đến việc lập thời gian biểu và
hiệu quả. Một hôm, cháu có một thời gian biểu rất chặt chẽ, phân phối
đến từng phút cho mọi hoạt động, trong bao nhiêu công việc có cả lấy
sách, rửa xe, và cả việc “cắt đứt: với Carol, cô bạn gái của cháu.

Mọi
thứ tiến hành đúng lịch cho tới khi cháu đến với Carol. Hai đứa đã hò
hẹn với nhau trong một thời gian dài và cuối cùng cháu đi đến kết luận
là không tiếp tục quan hệ nữa. Nhưng phù hợp với mẫu hiệu quả của cháu,
cháu ghi vào lịch gọi điện thoại cho cô bạn từ 10 đến 15 phút.

Tin
này gây chấn động mạnh cho cô bạn. Một tiếng rưỡi sau, cháu đã rơi vào
một cuộc nói chuyện không dứt ra được với người bạn gái. Tình hình này
là một kinh nghiệm hết sức thất bại cho cả hai.

Hơn nữa, bạn không chỉ đơn giản nghĩ đến hiệu quả đối với một con người. Bạn nghĩ đến tính hiệu quả đối với ngườihiệu quả đối với việc.
Tôi đã thử “có hiệu quả” đối với một người bất hòa hoặc một người khó
tính mà không được. Tôi đã cố gắng dành 10 phút “thời gian chất lượng”
cho một đứa bé hoặc một người làm công để giải quyết một vấn đề, mà chỉ
phát hiện được cái “hiệu quả” đó tạo ra những vấn đề mới mà ít khi giải
quyết những quan tâm sâu nhất.

Tôi
thấy nhiều bố mẹ, đặc biệt các bà mẹ có con bé, thường buồn vì không
đạt nguyện vọng làm được nhiều, bởi vì tất cả những gì họ muốn làm là
để đáp ứng nhu cầu hàng ngày của các cháu bé. Nhớ rằng tâm trạng thất
bại là hàm số của sự chờ mong, mà sự chờ mong thường do tấm gương xã
hội hơn là do giá trị và sự ưu tiên của mình.

Nhưng
nếu bạn có Thói quen ăn sâu vào tim óc, bạn có những giá trị cao đó
điều khiển bạn, bạn có thể bắt thời gian biểu của mình phụ thuộc vào
những giá trị đó một cách trọn vẹn. Bạn có thể thích nghi, bạn có thể
linh hoạt, bạn không cảm thấy sai lầm khi bạn không theo đúng thời gian
biểu hoặc khi bạn phải thay đổi nó.

CÁC ƯU ĐIỂM CỦA THẾ HỆ THỨ TƯ

Một
trong những lý do chống lại việc sử dụng các công cụ quản lý thời gian
thế hệ thứ ba là vì chúng làm mất tính tự phát, chúng trở thành vững
chắc, bất di bất dịch. Nó làm người ta phụ thuộc vào thời gian biểu,
bởi vì mẫu hiệu quả của thế hệ thứ ba của quản lý không hòa hợp với
nguyên lý con người quan trọng hơn công việc.

Công
vụ thế hệ thứ tư thừa nhận nguyên lý đó. Nó cũng xác nhận rằng con
người bạn là cái đầu tiên bạn cần xem xét về mặt tính hiệu quả chứ
không phải hiệu quả chính là bản thân bạn. Nó khuyến khích bạn đầu tư
vào góc II, khuyến khích bạn tìm hiểu và tập trung cuộc sống của bạn
vào nguyên lý, khuyến khích bạn diễn đạt rõ ràng các mục tiêu và các
giá trị mà bạn muốn định hướng cho các quyết định hàng ngày của bạn. Nó
giúp bạn tạo nên sự cân đối trong cuộc sống của bạn. Nó giúp bạn vượt
lên trên những hạn chế của việc lập kế hoạch hàng ngày, tổ chức và lập
thời gian biểu trong phạm vi tuần lễ. Và khi một giá trị cao đối diện
với những gì mà bạn đã có kế hoạch, nó cho bạn khả năng sử dụng sự tự
nhận thức và lương tâm của bạn để giữ lấy sự toàn vẹn cho nguyên lý và
các mục tiêu mà bạn đã xác định là quan trọng nhất. Thay vì sử dụng một
bản đồ, bạn sử dụng một cái địa bàn.

Thế hệ thứ tư của tự quản lý tiến bộ hơn thế hệ thứ ba ở năm mặt quan trọng sau đây:

Thứ nhất, nó lấy nguyên lý làm trung tâm.
Hơn cả những lời nói đãi bôi đối với góc II, nó tạo ra mẫu trung tâm.
Mẫu này làm cho bạn có khả năng nhìn thời gian của bạn trong phạm vi
của cái thực sự là cần thiết và có hiệu quả.

Thứ hai, hướng tới lương tâm.
Nó cho bạn cơ hội tổ chức cuộc sống của bạn với khả năng tốt nhất của
bạn, phù hợp với giá trị sâu xa nhất của bạn. Nhưng nó cũng cho bạn tự
do bắt thời gian biểu của mình phụ thuộc những giá trị cao hơn một cách
êm thấm.

Thứ ba, nó xác định nhiệm vụ duy nhất của bạn bao gồm cả các giá trị và các mục tiêu lâu dài. Điều này sẽ giúp bạn phương hướng và mục tiêu hành động hàng ngày.

Thứ tư, nó giúp bạn cân đối cuộc sống của bạn bằng cách xác định các vai trò, và bằng cách định mục tiêu, đặt lịch hoạt động cho mỗi vai trò chủ chốt hàng tuần.

Thứ năm, nó cho bạn một phạm vi lớn hơn qua việc tổ chức tuần lễ (cần
thích nghi hàng ngày) vượt lên trên tầm nhìn hạn chế của một ngày riêng
lẻ và đưa bạn tiếp xúc với các giá trị sâu nhất của bạn qua việc xem
xét lại các vai trò chủ chốt của bạn.

Sợi
chỉ thực tiễn xuyên qua năm ưu điểm này là một trung tâm chủ yếu nằm
trong các mối quan hệ và các kết quả và một trung tâm thứ yếu nằm trong
thời gian.

SỰ ỦY NHIỆM TĂNG P VÀ PC

Chúng
ta hoàn thành tất cả những gì chúng ta làm qua ủy nhiệm – hoặc ủy nhiệm
cho thời gian, hoặc ủy nhiệm cho con người. Nếu chúng ta ủy nhiệm cho
thời gian, chúng ta nghĩ về hiệu quả. Nếu chúng ta ủy nhiệm cho con người, chúng ta nghĩ về tính hiệu quả.

Nhiều
người từ chối ủy nhiệm cho người khác bởi vì họ cảm thấy mất nhiều thời
gian và công sức và họ có thể tự làm lấy công việc tốt hơn. Nhưng ủy
nhiệm một cách có hiệu quả cho người khác có lẽ là một hoạt động mạnh
mẽ nhất ở trình độ cao.

Chuyển
trách nhiệm cho những người có kỹ năng và được huấn luyện làm cho bạn
có điều kiện dành sức lực cho các hoạt động trình độ cao khác. Ủy nhiệm
có nghĩa là phát triển, cả cho cá nhân và cho tổ chức. Người ta trích
dẫn cố J.C. Penny rằng quyết định khôn ngoan nhất của ông là “cho tiến
hành” sau khi đã thừa nhận rằng ông không thể tự làm lấy lâu hơn nữa.
Quyết định đó được thực hiện từ lâu, đã làm cho hàng trăm cửa hàng và
hàng nghìn con người phát triển.

Bởi
vì nhiều người tham gia vào sự ủy nhiệm nên có một Thắng lợi công cộng
và được đưa vào Thói quen 4. Nhưng bởi vì chúng ta đang tập trung ở đây
vào các nguyên lý quản lý cá nhân, và khả năng ủy nhiệm cho người khác
là sự khác biệt chủ yếu của người quản lý và người sản xuất độc lập,
nên tôi đang tiếp cận ủy nhiệm từ lập trường của các kỹ năng quản lý cá
nhân của bạn.

Người
sản xuất làm bất kỳ cái gì cần thiết để đạt được kết quả mong muốn, để
có những quả trứng vàng. Một ông bố, bà mẹ rửa bát, một kiến trúc sư
phác thảo bản thiết kế, hoặc một người thư ký đánh máy thư từ là một
người sản xuất.

Nhưng
khi một người đứng ra tổ chức và làm việc với con người, và qua con
người và các hệ thống để sản xuất ra những quả trứng vàng, thì người đó
trở thành người quản lý theo nghĩa tùy thuộc lẫn nhau. Một ông bố bà mẹ
giao cho con rữa bát là một người quản lý. Một kiến trúc sư đứng đầu
một tổ kiến trúc sư là một người quản lý. Một người thư ký giám sát
những người thư ký khác và nhân viên văn phòng là một người quản lý văn
phòng.

Một
người sản xuất có thể đầu tư nổ lực trong một tiếng đồng hồ và sản xuất
ra một đơn vị kết quả, coi như không có thất thoát hiệu quả.

Mặt
khác, người quản lý có thể đầu tự nổ lực trong một giờ và sả xuất ra
mười hay mười lăm hay một trăm đơn vị qua sự ủy nhiệm có hiệu quả.

Quản lý chủ yếu là dịch chuyển điểm tựa và chìa khóa của quản lý có hiệu quả là sự ủy nhiệm.

ỦY NHIỆM SAI BẢO


hai loại ủy nhiệm cơ bản: “ủy nhiệm sai bảo” và “ủy nhiệm quản lý”. Ủy
nhiệm sai bảo “đến chỗ này, đến chỗ kia, làm việc này, làm việc kia và
báo cáo lại công việc đã hoàn thành”. Đa số những người sản xuất có một
mẫu ủy nhiệm sai bảo. Hãy nhớ lại những người thợ chặt cây trong rừng.
Họ là những người sản xuất. Họ xắn tay áo lên làm việc. Nếu họ được
giao một địa vị giám sát hoặc quản lý, họ vẫn nghĩ như người sản xuất.
Họ không biết tổ chức một sự ủy nhiệm đầy đủ như thế nào để người khác
cam kết đạt kết quả. Bởi vì họ tập trung vào phương pháp, họ chịu trách
nhiệm về các kết quả.

Tôi
đã tham gia một sự ủy nhiệm sai bảo một lần khi gia đình chúng tôi đi
lướt ván. Con trai tôi là một vận động viên lướt ván xuất sắc, lướt
trên mặt nước còn tôi thì lái thuyền. Tôi trao cho vợ tôi máy ảnh và
bảo chụp một vài kiểu.

Thoạt
đầu tôi bảo cô ấy chọn kiểu mà chụp vì chúng tôi không còn nhiều phim.
Rồi tôi nhận ra rằng cô ấy không quen máy ảnh cho nên tôi phải chỉ bảo
rành rõ hơn. Tôi bảo cô ấy muốn ăn chắc phải chờ cho đến khi mặt trời ở
trước mũi thuyền hoặc quay người và lượn khúc.

Nhưng
càng nghĩ về số cảnh hạn chế và sự thiếu kinh nghiệm sự dụng máy ảnh
của cô ấy, tôi càng lo lắng. Sau cùng, tôi nói: “Này Sandra, bấm nút
này khi anh bảo, nghe chưa?” và vài phút sau tôi lại hét lên: “Bấm đi!
Bấm đi!”. “Thôi! Đừng bấm nữa!” Tôi sợ rằng nếu tôi không chỉ dẫn từng
động tác, từng phút từng giây thì sẽ hỏng việc.

Đây
đúng là một sự ủy nhiệm sai bảo, một sự giám sát từng tí một các phương
pháp. Nhiều người kiên trì sự ủy nhiệm này. Nhưng thực sự họ đạt được
bao nhiêu? Và bao nhiêu người có thể được giám sát hoặc quản lý khi bạn
phải lưu ý đến từng động tác của họ?


một cách ủy nhiệm khác tốt hơn nhiều, có hiệu quả hơn nhiều. Nó dựa
trên một mẫu của sự hiểu rõ giá trị của khả năng tự nhận thức, của
tưởng tượng, lương tâm và ý chí tự do của người khác.

ỦY NHIỆM QUẢN LÝ

Ủy
nhiệm quản lý tập trung vào kết quả chứ không tập trung vào phương
pháp. Nó cho phép người ta lựa chọn phương pháp để đảm bảo kết quả. Khi
bắt đầu, mất nhiều thời gian, nhưng đó là thời gian được đầu tư đúng
chỗ. Bạn có thể di chuyển điểm tựa để tăng tác dụng đòn bẩy của ủy
nhiệm quản lý.

Ủy nhiệm quản lý bao hàm sự hiểu biết lẫn nhau trước và sự cam kết đối với những mong muốn trong năm lĩnh vực.

KẾT QUẢ MONG MUỐN. Tao ra một sự hiểu biết lẫn nhau về cái cần phải đạt được, tập trung vào cái gì chứ không phải như thế nào, vào kết quả chứ không phải phương pháp.
Phải đầu tư thời gian, phải kiên nhẫn. Hãy hình dung ra kết quả mong
muốn. Hãy là người đã nhìn thấy nó, mô tả nó. Hãy viết một bản phát
biểu có chất lượng về nó đúng như nó khi đạt được.

CÁC
NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO. Xác định các nhân tố trong đó có cá nhân hoạt động.
Những thông số này càng ít càng tránh được lối ủy nhiệm phương pháp,
nhưng có thể có những hạn chế lớn. Chắc bạn không muốn một người làm
cho bạn nghĩ rằng người đó có quyền hành rộng rãi vi phạm các tập quán
truyền thống và các giá trị bền vững khi họ thực hiện các mục tiêu.
Điều này sẽ bóp nghẹt sáng kiến và làm cho người ta quay lại với tín
điều của ủy nhiệm sai bảo. “Hãy nói với tôi ông muốn làm gì, tôi sẽ làm
cái đó”.

Nếu
bạn biết các con đường thất bại của công việc thì hãy chỉ rõ ra. Hãy
trung thực và cởi mở. Hãy bảo cho người ta bãi cát lún ở đâu, dã thú ở
đâu. Bạn không cần phải ngày nào cũng làm đi làm lại cái bánh xe. Hãy
để cho người khác rút ra bài học từ những sai lầm của bạn hoặc của
người khác. Hãy chỉ ra các con đường thất bại tiềm ẩn, cái không được làm, chứ đừng bảo họ cái phải làm. Giao trách nhiệm về kết quả cho họ. Làm bất cứ cái gì là cần thiết trong các nguyên tắc chỉ đạo.

CÁC NGUỒN LỰC. Xác định nguồn lực về người, tài chính, kỹ thuật hoặc tổ chức có thể huy động để đạt được kết quả mong muốn.

TRÁCH NHIỆM. Xác định các tiêu chuẩn thành tích để sử dụng trong việc đánh giá các kết quả và các thời gian đặc trưng.

KẾT
QUẢ. Chỉ rõ cái gì sẽ xảy ra, cả tốt lẫn xấu,coi đó là kết quả của định
giá. Điều này bao gồm cả những cái như phần thưởng bằng tiền, phần
thưởng tinh thần, giao công việc, và những kết quả tự nhiên liên quan
đến toàn bộ nhiệm vụ của một tổ chức.

Mấy
năm trước đây, tôi có một kinh nghiệm lý thú về ủy nhiệm đối với con
trai tôi. Chúng tôi có một cuộc họp gia đình, bản công bố nhiệm vụ treo
trên tường để đảm bảo các kế hoạch của chúng tôi ăn khớp với giá trị
của chúng tôi. Mọi người đều có mặt.

Tôi
lấy một cái bảng đen và viết các mục tiêu của chúng tôi – việc chủ yếu
mà tôi muốn làm – và các công việc xuất phát từ những mục tiêu đó. Sau
đó tôi yêu cầu mọi người tự nguyện nhận việc.

“Ai muốn trả tiền cầm đồ?” Tôi hỏi. Tôi nhận thấy tôi là người duy nhất giơ tay.

“Ai muốn trả tiền bảo hiểm? Tiền ăn? Tiền xe?” Tôi cảm thấy mỗi việc có một người giữ độc quyền.

“Ai muốn cho em bé ăn?” Ở đây có nhiều người quan tâm nhưng chỉ có vợ tôi mới có đủ tư cách để làm việc đó.

Khi tôi phân công xong thì rõ ràng Bố và Mẹ có hơn 16 giờ làm việc trong tuần.

Cháu
trai bảy tuổi, Stephen, tình nguyện chăm sóc sân nhà. Trước khi giao
việc cho cháu, tôi bắt đầu một quá trinh huấn luyện. Tôi muốn cháu có
một hình ảnh rõ ràng trong đầu về một cái sân được chăm sóc cẩn thận,
do đó, tôi dẫn cháu đến bên cửa sổ nhìn sang nhà hàng xóm. “Con nhìn
xem”. Tôi nói: “Con thấy sân nhà hàng xóm xanh và sạch không? Sân của
chúng ta sau này cũng phải như thế: xanh và sạch. Bây giờ hãy nhìn sân
nhà mình. Con có thấy màu sắc lộn xộn không? Không thể để như thế được,
nó không xanh. Xanh và sạch là những điều chúng ta cần. Bây giờ con làm
thế nào cho xanh. Con tự do làm, trừ quét sơn. Nhưng, bố sẽ nói với con
nếu bố làm thì bố làm như thế nào?”

“Bố làm như thế nào?”.

“Bố
dùng các thùng tưới. Nhưng nếu con dùng xô hay vòi nước cũng được.
Chẳng có gì khác – Điều chúng ta quan tâm là màu xanh. Được chứ?”.

“Được rồi ạ”.

“Bây
giờ ta nói sang vấn đề “sạch”. Con ạ, sạch có nghĩa là không lộn xộn,
bẩn thỉu – không có giấy, không có dây dưa, các mẩu xương, que lẻ hoặc
bất cứ thứ gì làm cho nhà ta bẩn thỉu, lộn xộn. Bố sẽ bảo con làm như
thế nào. Hãy làm cho sạch nửa sân rồi so sánh xem”.

Sau
đó tôi lấy hai cái giỏ đựng giấy và nhặt rác ở một nữa sân. “Nào con
xem bên này. Xem bên kia. Có thấy khác không? Như vậy gọi là sạch.”

“Khoan đã” Cháu kêu lên. “Con thấy một mẫu giấy sau bụi cây này!”

“Ồ, tốt quá! Bố không để ý. Con nhìn tinh đấy.”

“Bây
giờ trước khi con quyết định có làm hay không làm công việc ngay bây
giờ, bố muốn nói thêm với con vài lời. Bởi vì khi con làm công việc
này, bố không làm gì cả. Đây là công việc của con. Nó gọi là công việc
quản lý. Cương vị quản lý có nghĩa là “một công việc với một sự tin
cậy”. Bố tin ở con, con sẽ làm tốt công việc này. Vậy bây giờ ai là ông
chủ của con?”

“Bố!”

“Không phải bố, mà là con. Con là ông chủ của con. Con có muốn lúc nào bố mẹ cũng rầy con không?”

“Con không.”

“Bố
mẹ cũng vậy. Có phải đôi khi cũng khó chịu không? Vì vậy con phải là
chủ của con. Nào hãy đoán xem ai là người giúp việc con nào ?”

“Ai ạ?”

“Bố!” Tôi nói. “Con hãy sai bảo bố”.

“Con ư?”

“Tất
nhiên. Nhưng bố có ít thời gian giúp con lắm. Đôi khi, bố không có mặt
ở đây. Nhưng khi nào bố có mặt thì con cứ bảo bố. Bố giúp được gì con
thì bố giúp. Bố sẽ làm bất kỳ cái gì con muốn.”

“Được ạ.”

“Bây giờ đoán xem ai là người nhận xét đánh giá công việc của con?”

“Ai ạ?”

“Chính là con.”

“Con ư?”

“Đúng. Một tuần 2 lần, hai bố con mình sẽ đi quanh sân và con có thể chỉ cho bố tình hình ra sao. Con sẽ nhận xét như thế nào?”

“Xanh và sạch.”

“Đúng.”

Tôi
huấn luyện cháu với hai từ đó trong hai tuần trước khi tôi cảm thấy
cháu đã sẵn sàng bắt tay vào việc. Sau cùng, ngày trọng đại ấy đến.”

“Có nhiều việc không con?”

“Có ạ!”

“Công việc thế nào?”

“Xanh và sạch ạ!”

“Thế nào là xanh?”

Cháu nhìn quanh sân, sân chúng tôi xanh hơn. Rồi cháu chỉ vào cửa bên cạnh: “Đây là màu của sân.”

“Thế nào là sạch?”

“Không có rác ạ!”

“Ai là ông chủ?”

“Thưa, con ạ!”

“Ai là người giúp việc của con?”

“Là bố khi bố có thì giờ.”

“Ai nhận xét con?”

“Dạ, con. Một tuần, con đi quanh sân hai lần và con có thể chỉ cho bố thấy những gì đã xảy ra.”

“Bây giờ con thấy thế nào?”

“Xanh và sạch ạ!”

Lúc
đó, tôi không tỏ ra là ghi nhận lời nói của cháu. Nhưng tôi không ngại
ngần thừa nhận đã làm được một sự ủy nhiệm trong cương vị quản lý.

Hai tuần lễ, hai từ. Tôi nghĩ rằng cháu đã sẵn sàng.

Ngày
thứ bảy, cháu không làm gì cả. Ngày Chủ nhật … không. Ngày thứ hai …
không. Ngày thứ ba, lúc tôi lái xe đi làm, tôi thấy màu vàng lộn xộn
trong sân và mặt trời tháng bảy nóng nực chiếu trên đường
xe lăn. “Chắc hôm nay nó làm”. Tôi nghĩ. Tôi có thể lý luận rằng ngày
thứ bảy là ngày chúng tôi họp để nhất trí với nhau. Tôi có thể có lý do
cho ngày chủ nhật: ngày chủ nhật là ngày dảnh riêng cho những việc
khác. Nhưng tôi không thể bào chữa cho ngày thứ hai được. Và hôm nay là
ngày thứ ba. Chắc chắn nó sẽ làm. Đang nghỉ hè mà. Nó có phải làm gì
khác đâu.

Suốt
ngày, tôi nóng lòng chờ nó về nhà để xem việc gì đã xảy ra. Tôi vừa rẽ
vào nhà thì thấy quang cảnh vẫn như lúc sáng. Và con trai tôi đang chơi
trong công viên bên kia đường.

Không
thể chấp nhận được. Tôi bị choáng váng và vỡ mộng về thành tích của
cháu sau hai tuần huấn luyện và bao nhiêu điều cam kết. Tôi đã đầu tư
vào cái sân sức lực, niềm kiêu hãnh và cả tiền bạc và thế là mất hết.
Bên cạnh, mảnh sân nhà hàng xóm chúng tôi được xén tỉa đẹp đẽ. Tình
trạng thật khó xử.

Tôi sẵn sàng quay trở lại kiểu ủy nhiệm sai bảo. Con trai, lại đằng kia nhặt rác đi ngay bây giờ và cả những thứ khác nữa!
Tôi biết tôi có thể được quả trứng vàng bằng cách ấy. Nhưng còn con
ngỗng? Cái gì sẽ xảy ra trong nội tâm của cháu? Tôi giả vờ mỉm cười và
gọi sang bên kia đường: “Này, con trai, công việc thế nào?”

“Tốt bố ạ!” Cháu quay về.

“Sân
nhà ta ra sao rồi?” Tôi biết rằng lúc tôi nói điều đó tôi đã hủy bỏ sự
thỏa thuận giữa chúng tôi. Đó không phải là cách tôi làm khi giải
thích. Đó không phải là cái mà chúng tôi đã nhất trí.

Cho nên cháu cũng cho là đúng khi hủy bỏ sự thỏa thuận.

“Tốt, bố ạ!”

Tôi
tặc lưỡi và chờ sau bữa ăn tối. Tôi nói: “Con trai ạ, chúng ta hãy làm
như đã thỏa thuận với nhau. Chúng ta hãy cùng nhau đi quanh sân và con
sẽ chỉ cho bố những gì đã xảy ra trong cương vị quản lý của con.”

Khi chúng tôi vừa ra khỏi cửa thì cháu bắt đầu run, nước mắt lưng tròng. Khi đến giữa sân cháu khóc thút thít.

“Khổ quá bố ạ!”

Khổ
quá ư? Tôi nghĩ. Con chỉ làm một việc đơn giản! Nhưng tôi biết cái gì
khó – tự quản lý, tự kiểm tra. Cho nên tôi nói: “Bố giúp con được gì
nào?”

“Bố giúp con ư?” Cháu khụt khịt.

“Chúng ta đã thỏa thuận như thế nào nhỉ?”

“Bố nói bố giúp con khi có thì giờ.”

“Bố đang rảnh”.

Thế
là cháu chạy vào nhà và lấy ra hai cái giỏ. Cháu đưa cho tôi một cái.
“Bố nhặt những cái rác kia cho con được không?” Cháu chỉ chỗ rác rưởi
còn vứt lại sau buổi liên hoan ngoài trời tối thứ bảy. “Chúng làm con
buồn nôn!”

Tôi
làm theo lời cháu. Tôi làm đúng như cháu bảo. Và đó cũng là lúc tôi ký
bản thỏa thuận vào tim cháu. Nó trở thành cái sân của cháu, cương vị
quản lý của cháu.

Cả
mùa hè ấy, cháu chỉ yêu cầu tôi giúp cháu hai, ba lần. Cháu chăm sóc
nhà cẩn thận, cháu làm cho nó sạch hơn, xanh hơn khi tôi chăm sóc. Cháu
còn góp ý kiến với các anh chị cháu lúc chúng vứt giấy kẹo lên cỏ.

Sự
tín nhiệm là hình thức cao nhất của động lực thúc đẩy con người. Nó
khai thác được cái tốt nhất trong mỗi con người. Nhưng phải tốn thời
gian và kiên trì. Và cũng không loại trừ sự cần thiết huấn luyện và
phát triển để con người có khả năng đạt được sự tín nhiệm đó. Tôi tin
rằng nếu sự ủy nhiệm cương vị lãnh đạo được tiến hành đúng đắn thì cuối
cùng cả hai bên đều có lợi, bởi vì sẽ làm được nhiều hơn với thời gian
ít hơn. Tôi tin rằng một gia đình được tổ chức tốt, dành thời gian để
ủy nhiệm có hiệu quả cho từng thàn viên trong gia đình thì có thể tổ
chức công việc để mỗi người có thể làm việc nhà khoảng một tiếng trong
ngày. Nhưng điều này đòi hỏi khả năng nội tại muốn quản lý chứ không
phải muốn sản xuất. Trung tâm tính hiệu quả chứ không phải ở hiệu quả.

Chắc
chắn bạn dọn phòng sạch hơn con bạn, nhưng vấn đề là bạn muốn con bạn
làm được việc đó. Bạn phải đầu tư thời gian, phải huấn luyện và phát
triển. Đúng là phải mất thời gian nhưng thời gian đó đáng giá biết bao.
Nó tiêt kiệm thời gian cho bạn về lâu dài.

Tiếp
cận này liên quan đến một mẫu mới về sự ủy nhiệm. Thực vậy, nó thay đổi
bản chất của mối quan hệ. Người quản lý, trở thành ông chủ của bản
thân, với ý thức đã cam kết nhất trí với kết quả mong muốn. Nhưng nó
cũng giải phóng năng lực sáng tạo của mình để làm bất kỳ những gì cần
thiết phù hợp với các nguyên lý đúng đắn để đạt được những kết quả mong
muốn.

Những
nguyên lý tham gia vào sự ủy nhiệm cương vị quản lý là đúng đắn, áp
dụng được cho bất kỳ loại người nào, vào bất kỳ tình huống nào. Với
người chưa trưởng thành, bạn hãy nêu ra kết quả mong muốn thấp hơn,
nhưng bạn lại phải hướng dẫn nhiều hơn, cung cấp nhiều nguồn lực hơn,
phải hỏi han luôn công việc đã được tiến hành như thế nào, và công nhận
ngay các kết quả đã đạt được. Đối với những người trưởng thành hơn, bạn
giao cho những kết quả mong muốn có tính thử thách hơn, bạn hướng dẫn
ít hơn, ít kiểm tra kết quả hơn, có nhiều tiêu chuẩn ít để đánh giá mà
là để phân tích nhiều hơn.

Sự
ủy nhiệm có hiệu quả có lẽ là đồng hồ báo tốt nhất của quản lý có hiệu
quả, đơn giản bởi vì nó là cơ bản cho cả sự phát triển cá nhân và tổ
chức.

MẪU CỦA GÓC PHẦN TƯ THỨ II

Then
chốt của quản lý có hiệu quả bản thân hoặc người khác qua ủy nhiệm
không phải là một kỹ thuật hay một công cụ, một yếu tố ngoại lai. Nó là
nội tại, nó ở trong mẫu của góc phần tư thứ II, nó làm cho bạn có khả
năng nhìn qua thấu kính của cái quan trọng chứ không phải cái cấp bách.

Tôi
đưa vào phụ lục một bài tập gọi là “Một ngày của góc phần tư thứ II ở
văn phòng”. Nó giúp cho bạn nhìn thấy mẫu đó có thể ảnh hưởng mạnh mẽ
đến tính hiệu quả của bạn như thế nào trong một vụ kinh doanh.

Khi
luyện tập để phát triển mẫu của góc phần tư thứ II, bạn có thể tăng khả
năng tổ chức và thực hành hàng tuần trong cuộc sống của bạn về các ưu
tiên sâu sắc nhất, khả năng ứng xử trong các cuộc nói chuyện của bạn.
Bạn không phụ thuộc vào ai, vào việc gì trong việc quản lý có hiệu quả
cuộc sống của bạn.

Điều
thú vị là trong góc phần tư thứ II có cả Bảy thói quen. Mỗi thói quen
đều giải quyết những vấn đề quan trọng cơ bản, những vấn đề này sẽ làm
cho cuộc sống của bạn thay đổi một cách tích cực nếu được giải quyết
một cách đều đặn.

GỢI Ý ÁP DỤNG

  1. Xác định một hoạt
    động ở góc II mà bạn biết là bị lơ là trong cuộc sống của bạn, một hoạt
    động nếu làm tốt sẽ ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của bạn, hoặc về cá
    nhân, hoặc về nghề nghiệp. Viết ra và cam kết thức hiện.
  2. Vạch một ma trận
    quản lý thời gian và thử ước lượng số phần trăm thời gian dùng cho mỗi
    góc phần tư. Sau đó ghi thời gian của bạn trong ba ngày, mỗi lần cách
    nhau 15 phút. Bạn ước lượng đúng đến mức nào. Bạn có hài lòng về cách
    sử dụng thời gian của bạn không? Bạn có phải thay đổi không?
  3. Lập một danh sách
    các trách nhiệm mà bạn có hể ủy nhiệm và những người mà bạn có thể ủy
    nhiệm hoặc huấn luyện để chịu trách nhiệm trong lĩnh vực này. Xác định
    cần gì để bắt đầu để bắt đầu quá trình ủy nhiệm hoặc huấn luyện.
  4. Tổ chức tuần lễ
    của bạn. Bắt đầu bằng viết ra các vai trò của bạn và mục tiêu của tuần
    lễ; sau đó chuyển các mục tiêu sang kế hoạch hành động riêng biệt. Cuối
    tuần, đánh giá kế hoạch của bạn đã chuyển biến các giá trị sâu kín và
    các mục tiêu của bạn thành cuộc sống hàng ngày của bạn tốt đến mức nào
    và mức độ toàn vẹn mà bạn có thể giữ được cho nhữn giá trị và mục đích
    ấy.
  5. Cam kết với bản thân bắt đầu từ tổ chức cuộc sống theo từng tuần lễ và bố trí thời gian thường xuyên để thực hiện.
  6. Đổi công cụ lập kế hoạch hiện hành của bạn thành một công cụ thế hệ thứ tư và củng cố công cụ đã có.
  7. Xem xét tỉ mỉ “Một ngày của góc phần tư thứ II ở văn phòng” (Phụ lục B) để hiểu sâu hơn tác dụng của mẫu góc phần tư thứ II.




Thói quen 4: TƯ TƯỞNG THẮNG/THẮNG CÁC NGUYÊN LÝ CỦA SỰ LÃNH ĐẠO

18 12 2008

TƯ TƯỞNG THẮNG/THẮNG

CÁC NGUYÊN LÝ CỦA SỰ LÃNH ĐẠO GIỮA CÁ NHÂN VỚI CÁ NHÂN

Chúng ta đã ghi nhớ Nguyên tắc Vàng, bây giờ chúng ta hãy giao phó nó cho cuộc sống.

EDWIN MARKHAM

Một lần, tôi được mời làm việc với một công ty mà ông chủ tịch hết sức lo lắng về sự thiếu hợp tác giữa các nhân viên của ông.

“Ông
Stephen, vấn đề cơ bản của chúng tôi là tính ích kỷ” Ông nói. “Họ không
hợp tác. Tôi biết rằng nếu họ hợp tác thì sẽ sản xuất nhiều hơn. Ông có
thể giúp tôi triển khai một chương trình về các quan hệ giữa con người
để giải quyết vấn đề được không?”

“Vấn đề của ông là con người hay mẫu” Tôi hỏi.

“Ông hãy tìm hiểu lấy”. Ông ta trả lời.

Tôi
đi tìm hiểu. Ở đây có tính ích kỷ thực sự, không có thiện chí hợp tác,
chống lại người cầm quyền, giao tiếp phòng ngự. Tôi có thể thấy Tài
khoản Ngân hàng ở đây bị rút quá mức, gây nên tình trạng mất lòng tin.
Nhưng tôi nhấn mạnh vấn đề.

“Chúng
ta hãy xem xét sâu hơn”. Tôi đề xuất. “Tại sao nhân viên của ông không
hợp tác. Ông thưởng gì cho sự bất hợp tác?”. “Không hợp tác thì không
có thưởng”. Ông khẳng định với tôi. “Phần thưởng sẽ lớn hơn nhiều nếu
họ hợp tác”.

“Thật
không?” Tôi hỏi. Sau tấm màn cửa, trên một bức tường văn phòng của ông
chủ tịch là một biểu đồ. Trên một biểu đồ, một số ngựa đua xếp hàng
trên cùng một con đường. Trước mỗi con ngựa là bộ mặt người huấn luyện.
Cuối con đường là một bức tranh quảng cáo du lịch Bermuda khá đẹp, một
bức tranh đồng quê với trời xanh và mây bồng bềnh, một đôi trai gái
lãng mạn nắm tay nhau đang đi xuống một bãi cát trắng.

Mỗi
tuần một lần, ông mời tất cả nhân viên của mình vào văn phòng và bàn
chuyện hợp tác. “Chúng ta hãy cùng nhau làm việc. Chúng ta sẽ kiếm được
nhiều tiền hơn”. Rồi ông kéo tấm màn cửa ra và chỉ lên biểu đồ. “Bây
giờ trong các anh ai là người sẽ thắng để làm một chuyến du lịch đi
Bermuda nào?” Việc này giống như muốn bông hoa này nở lại đi tưới một
bông hoa khác. Giống như câu ngạn ngữ: “Cứ tiếp tục nung nấu rồi sẽ đến
khi nhuệ khí nâng cao”. Ông ta muốn hợp tác. Ông ta muốn mọi người cùng
nhau làm việc, cùng tham gia ý kiến, cùng hưởng lợi ích do những cố
gắng của họ đưa lại. Nhưng ông ta đẩy họ vào chỗ cạnh tranh với nhau.
Thành công của người này làm hại người khác.

Cũng
như nhiều, rất nhiều vấn đề giữa con người với nhau trong kinh doanh,
trong gia đình và trong các quan hệ khác, vấn đề ở công ty này là kết
quả của một mẫu sai lầm. Ông chủ tịch đang cố gắng đạt được kết quả của
sự hợp tác từ một mẫu cạnh tranh. Và khi không đạt ý muốn, ông dùng kỹ
thuật, chương trình, thuốc giải độc tác dụng nhanh để cho người của ông
hợp tác với nhau.

Nhưng
không thể nào thay đổi được quả nếu không cải tạo gốc rễ. Tác động vào
thái độ hành vi chỉ là cắt cành tỉa lá. Cho nên, thay vì tạo ra ưu thế
cho cá nhân và tổ chức, chúng tôi tập trung vào một biện pháp khác bằng
cách phát triển thông tin, triển khai một hệ thống thưởng có khả năng
củng cố giá trị của hợp tác.


bạn là chủ tịch công ty hay là người gác cổng, thời điểm bạn bước từ
độc lập sang tùy thuộc lẫn nhau dù với tư cách nào thì bạn cũng bước
vào vai trò lãnh đạo. Bạn ở vào vị trí ảnh hưởng đến người khác. Và
thói quen của sự thành công trong sự lãnh đạo giữa con người với con
người là Thắng/Thắng.

SÁU MẪU CỦA TÁC ĐỘNG QUA LẠI CỦA CON NGƯỜI

Thắng/Thắng
không phải là một kỹ thuật. Nó là một triết lý đầy đủ về tác động qua
lại của con người. Trên thực tế, nó là một trong sáu mẫu của tác động
qua lại. Các mẫu đó là:

  • Thắng/Thắng
  • Thắng/Thua
  • Thua/Thắng
  • Thua/Thua
  • Thắng
  • Thắng/Thắng hoặc Không hợp đồng

Thắng/Thắng

Thắng/Thắng là một trạng thái của trí tuệ và tình cảm luôn luôn tìm kiếm lợi ích chung cho tất cả mọi người có tác động qua lại.

Thắng/Thắng
có nghĩa là mọi thỏa thuận và mọi biện pháp đều đem lại lợi ích chung,
làm mọi người thỏa mãn. Với giải pháp Thắng/Thắng, tất cả các bên đều
cảm thấy quyết định là tốt và cam kết thực hiện. Thắng/Thắng nhìn cuộc
sống là hợp tác, không phải là cạnh tranh. Đa số có xu hướng suy nghĩ
phân cực: mạnh hoặc yếu, mềm hoặc cứng, thắng hoặc thua. Nhưng kiểu suy
nghĩ đó là sai lầm cơ bản. Nó dựa trên quyền lực và địa vị hơn là dựa
trên nguyên lý. Thắng/Thắng dựa trên nguyên lý rằng “Có đầy đủ cho mọi
người, thành công của một người không xâm phạm đến thành công hay loại
trừ thành công của người khác”.

Thắng/Thắng là lòng tin ở Biện pháp thứ ba. Nó không phải là của bạn hay của tôi. Nó là một biện pháp tốt hơn, cao hơn.

Thắng/Thua

Một biện pháp ngược với Thắng/Thắng là Thắng/Thua – mẫu của cuộc sống chạy đua đến Bermuda. Nó nói: “Nếu tôi Thắng, anh Thua”.

Trong
phong cách lãnh đạo, Thắng/Thua là tiếp cận quyền lực “Tôi có cách của
tôi, anh không được dùng cách của anh”. Người Thắng/Thua nghiêng về sử
dụng địa vị, quyền lực, ủy nhiệm thư, của cải, hoặc tư tưởng cá nhân để
đạt được mục đích.

Đa số đã mang kịch bản tâm lý Thắng/Thua từ khi lọt lòng mẹ.

Ảnh hưởng mạnh mẽ tác động đầu tiên và quan trọng nhất là gia đình. Khi so sánh đứa con này với đứa con khác, khi tình cảm,
lòng kiên nhẫn, sự hiểu biết hay tình yêu gửi vào hay rút ra đều dựa
vào sự so sánh này, thì người ta suy nghĩ theo kiểu Thắng/Thua. Khi
tình yêu được ban phát trên cơ sở có điều kiện, khi ai đó được yêu,
điều họ được thông báo là thực chất họ không đáng giá hoặc không đáng
được yêu. Giá trị không nằm trong họ mà nằm ở ngoài họ. Nó là do so
sánh với một người nào khác hoặc chống lại một mong muốn nào đó.


cái gì sẽ xảy đến cho một trí tuệ và một tâm hồn ngây thơ dễ bị tổn
thương cao độ, phụ thuộc cao độ vào sự giúp đỡ và tình cảm của bố mẹ,
trước một tình yêu có điều kiện? Đứa bé bị nhào nặn, bị đúc khuôn, bị
chương trình hóa trong tâm lý Thắng/Thua.

“Nếu tôi giỏi hơn anh tôi, bố mẹ sẽ yêu tôi hơn”.

“Bố mẹ không yêu tôi bằng yêu chị tôi. Tôi không đáng giá bằng chị tôi”.

Một
cơ sở viết kịch bản có thế lực nữa là nhóm tương đương. Một đứa trẻ
muốn trước tiên được bố mẹ chấp nhận, sau đó là những người tương đương
với nó, anh em ruột thịt hoặc bạn bè nó. Nhưng tất cả chúng ta đều biết
rằng đôi khi những người tương đương có thể là tàn bạo. Chúng thường
chấp nhận hoặc gạt bỏ hoàn toàn trên cơ sở phù hợp với mong muốn và
tiêu chuẩn của chúng, cung cấp thêm kịch bản cho tâm lý Thắng/Thua.

Giới
học thuật củng cố thêm kịch bản Thắng/Thua. “Đường cong phân phối” cơ
bản nói rằng bạn được một “A” bởi vì ai đó được một “C”. Nó giải thích
giá trị của một cá nhân bằng cách so sánh giá trị của một cá nhân đó
với một cá nhân khác. Không có một thừa nhận nào từ bản chất. Mọi người
đều được đánh giá từ bên ngoài.

“Ồ,
rất vui mừng được gặp chị trong cuộc họp phụ huynh học sinh này. Chị
hẳn tự hào về cô con gái Caroline của chị. Cháu ở trong số mười phần
trăm giỏi nhất đấy”.

“Vâng, tôi cảm thấy vinh hạnh quá!”.

“Nhưng cậu Johny con trai chị thì có khó khăn đấy. Cháu ở trong số bốn đứa kém nhất”.

“Thật ư? Ôi, khủng khiếp!. Chúng tôi có thể làm gì được đây?”.

Cái
mà thông tin so sánh này không nói với bạn có lẽ là Johny đã cố gắng
hết sức mình trong lúc Caroline chỉ mới cố gắng có một nửa. Nhưng người
ta không phân loại dựa vào tiềm năng hoặc vào sự cố gắng. Chúng được
phân loại theo mối quan hệ với người khác. Mà sự phân loại lại mang
theo giá trị xã hội. Chúng mở ra hoặc khép lại cánh cửa của các cơ
hội.Cạnh tranh, chứ không phải hợp tác, nằm trong hạt nhân của quá
trình giáo dục. Trên thực tế, sự hợp tác thường kết hợp với gian lận.

Một
yếu tố chương trình hóa mạnh mẽ nữa là thể thao, đặc biệt đối với thanh
niên trong các trường đại học hoặc cao đẳng. Thường thường họ triển
khai các mẫu cơ bản của cuộc đời là một số trò chơi lớn, một trò chơi
có tổng bằng không trong đó một bên thắng một bên thua. “Thắng” là
“đánh bại” trong lĩnh vực thể thao.

Một
yếu tố khác là pháp luật. Chúng ta sống trong một xã hội thích tranh
chấp. Điều đầu tiên mà nhiều người nghĩ đến khi có chuyện lôi thôi với
ai đó là đi kiện, là đưa ra tòa, là “Thắng” trên sự thiệt hại của người
khác. Còn tư tưởng phòng ngự thì không sáng tạo mà cũn không hợp tác.

Chắc
chắn, chúng ta cần pháp luật, nếu không xã hội sẽ thoái hóa. Nhưng pháp
luật bảo vệ cuộc sống mà không tạo ra hiệp đồng. Tốt đẹp nhất là thỏa
hiệp được. Pháp luật dựa trên một quan niệm đối kháng. Xu hướng ngày
nay khuyến khích các luật gia và các trường luật tập trung vào sự
thương lượng hòa bình, các kỹ thuật Thắng/Thắng và sử dụng các tòa án
tư nhân, tuy không cung cấp giải pháp cơ bản nhưng cũng phản ánh sự
hiểu biết vấn đề đang tăng lên.

Chắc
chắn, trong hoàn cảnh cạnh tranh thực sự và tín nhiệm thấp có vị trí
của tư tưởng Thắng/Thua. Nhưng phần lớn cuộc sống không phải là sự cạnh
tranh. Không phải ngày nào chúng ta cũng sống cạnh tranh với vợ, chồng,
con cái chúng ta, với đồng sự, với láng giềng và bạn bè. “Ai thắng
trong cuộc hôn nhân của bạn” là một câu hỏi ngớ ngẩn. Nếu cả hai không
thắng thì cả hai cùng thua.

Phần
lớn cuộc sống là một thực tế tùy thuộc lẫn nhau. Không phải là một thực
tế độc lập. Phần lớn kết quả là bạn muốn tùy thuộc vào sự hợp tác giữa
bạn với những người khác. Và tâm lý Thắng/Thua không thích hợp với sự
hợp tác đó.

Thua/Thắng

Một số người khác lại được chương trình hóa khác – Thua/Thắng

“Tôi thua, bạn thắng”

“Cứ tiến lên phía trước. Hãy đi với tôi”.

“Hãy giẫm lên tôi nữa đi. Mọi người hãy giẫm lên tôi mà đi”.

“Tôi là một người thua cuộc. Tôi luôn là người thua cuộc.”

“Tôi là một người muốn hòa giải. Tôi làm tất cả để giữ được bình yên.”

Thua/Thắng
tồi tệ hơn Thắng/Thua bởi vì nó không có các tiêu chuẩn – không có yêu
cầu, không có dự định, không có ước mơ. Người có ý nghĩ Thua/Thắng
thường vội vàng làm vừa lòng hoặc nhân nhượng vô nguyên tắc. Họ tìm sức
mạnh ở sự ưa thích của quần chúng hoặc sự chấp nhận. Họ có một tí can
đảm để biểu lộ tình cảm và sự nhận lỗi của mình và dễ dàng bị sức mạnh
ích kỷ của người khác đe dọa.

Nhưng
vấn đề người có tư tưởng Thắng/Thua che dấu một số lớn tình cảm. Mà một
tình cảm không được nói ra không bao giờ chết. Nó bị chôn vùi rồi sống
lại theo những cách tồi tệ hơn. Bệnh thần kinh đặc biệt là của các hệ
hô hấp, thần kinh và tuần hoàn thường là hiện thân của sự phẫn uất tích
lũy, của sự thất vọng sâu sắc và sự vỡ mộng do tâm lý Thua/Thắng dồn
nén lại. Giận dữ quá mức, phản ứng quá đáng với những khiêu khích nhỏ
và hoài nghi là hiện thân khác của tình cảm bị dồn nén.

Người
luôn luôn dồn nén không đưa tình cảm của mình đến một ý nghĩ cao hơn,
chỉ thấy nó ảnh hưởng đến lòng tự tôn của mình và cuối cùng tới chất
lượng của các quan hệ với người khác.

Cả
hai Thắng/Thua và Thua/Thăng đều là những trạng thái yếu kém là do sự
không an toàn của cá nhân. Nhất thời, Thắng/Thua có thể tạo nên nhiều
kết quả hơn bởi vì nó nhờ đến những sức mạnh to lớn và tài năng của
những người ở địa vị cao nhất, Thua/Thắng yếu đuối và lộn xộn từ đầu.

Nhiều
ủy viên chấp hành, nhà quản lý và bố mẹ dao động như một con lắc, từ sự
thiếu chín chắn của Thắng/Thua sang sự khoan dung của Thua/Thắng. Khi
họ không chịu đựng được sự lộn xộn và sự thiếu cấu trúc, phương hướng,
dự định và kỷ luật hơn nữa, họ dao động sang Thắng/Thua cho đến khi sự
sai lầm mài mòn quyết tâm của họ. Họ lại dao động sang Thua/Thắng cho
đến khi sự giận dữ và thất bại đưa họ trở lại Thắng/Thua lần nữa.

Thua/Thua

Khi
hai người Thắng/Thua ở cùng nhau – tức là khi họ kiên quyết,bướng bỉnh,
tác động cá nhân qua lại với nhau – kết quả là Thua/Thua. Cả hai cùng
thua. Cả hai cùng trở nên hay thù oán và muốn “gỡ lại” hoặc “trả thù”,
họ nhắm mắt trước sự thật: giết người là tự tử, báo thù là cây gươm hai
lưỡi.

Tôi
biết một vụ ly hôn trong đó tòa án quyết định người chồng bán tài sản
và đưa cho vợ cũ của mình một nửa số tiền thu được. Người chồng bằng
lòng. Ông bán chiếc xe đáng giá 10.000 đôla với giá 5000 đôla và đưa
cho vợ 2500 đôla. Khi người vợ phản đối, tòa kiểm tra và phát hiện
người chồng đã bán toàn bộ tài sản theo cách đó.

Một
số người có trung tâm kẻ thù, hoàn toàn bị thái độ và hành vi của người
khác ám ảnh, đến mức họ nhắm mắt trước mọi cái, trừ sự mong muốn cho
người kia bị hay ngay cả khi bản thân mình cũng bị hại. Thua/Thua là
triết lý của sự đối đầu thù địch, triết lý của chiến tranh.

Thua/Thua
cũng la triết lý của những người phụ thuộc ở mức độ cao, không có định
hướng bên trong, những người khổ sở và nghĩ rằng mọi người cũng phải
khổ sở. “Nếu không ai thắng cả thì người thua không đến nỗi tồi tệ”.

Thắng

Một
tâm trạng phổ biến khác là Thắng. Người có tâm trạng không muốn ai thua
cả. Như vậy là không phù hợp. Cái quan trọng là người ta được cái người
ta muốn. Khi không có tính chất thi đấu hoặc cạnh tranh thì Thắng có lẽ
là tiếp cận phổ biến trong mọi cuộc thỏa thuận hàng ngày. Một người với
tâm trạng Thắng suy nghĩ theo chiều hướng bảo đảm an toàn các mục đích
của mình và để cho người khác bảo đảm an toàn các mục đích của họ.

Sự lựa chọn nào tốt nhất

Trong năm triết lý thảo luận trên đây: Thắng/Thắng, Thắng/Thua, Thua/Thắng, Thua/Thua và Thắng, cái nào có hiệu quả nhất?

Câu
trả lời là: “Tùy”. Nếu đội bạn thắng trong một trận bóng đá tức là đội
kia thua. Nếu bạn làm việc trong một cơ quan miền cách cơ quan miền
khác hàng dặm, và nếu bạn không có quan hệ chức năng nào với cơ quan
đó, bạn có thể muốn có một cuộc đấu tranh theo kiểu Thắng/Thua để kích
thích công việc làm ăn. Tuy nhiên, bạn không muốn gây nên một tình
trạng Thắng/Thua như cuộc “chạy đua đến Bermuda” trong một công ty hoặc
trong một hoàn cảnh mà bạn cần những người hoặc những nhóm người ở đó
hợp tác với nhau để đạt được hiệu quả tối đa.

Nếu
bạn, coi trọng một mối quan hệ và vấn đề không thực sự quan trọng, bạn
có thể sử dụng Thua/Thắng trong một số trường hợp để khẳng định chính
xác người khác. “Cái tôi muốn không quan trọng đối với tôi bằng mối
quan hệ của tôi với bạn. Bạn cứ làm theo ý bạn”. Bạn cũng có thể làm
theo kiểu Thua/Thắng nếu bạn cảm thấy cần đầu tư thời gian và nổ lực để
thắng một cái gì đó đang vi phạm những giá trị cao hơn.


những hoàn cảnh trong đó bạn phải thắng và bạn không quan tâm nhiều đến
mối quan hệ với những người mà bạn thắng họ. Thí dụ, nếu con bạn gặp
nguy hiểm đến tính mạng bạn có thể không quan tâm lắm đến người khác và
hoàn cảnh. Cứu sống con bạn là điều quan trọng nhất.

Sự
lựa chọn tốt nhất là tùy thực tế. Sự thách thức là xác định thực tế đó
cho đúng và không áp dụng Thắng/Thua hoặc các kịch bản khác vào mọi
tình huống.

Trên
thực tế, nhiều trường hợp là một bộ phận của thực tế tùy thuộc lẫn
nhau, và khi đó chỉ có Thắng/Thắng là thực sự có thể đứng vững được.

Thắng/Thua
không thể đứng vững được vì mặc dù tô thắng bạn trong một cuộc tranh
chấp, nhưng cảm tình của bạn, thái độ của bạn đối với tôi và quan hệ
của chúng ta nhất định bị ảnh hưởng. Thí dụ, nếu tôi là một người cung
ứng cho công ty bạn, tôi thắng bạn trong một cuộc thương lượng, tôi đạt
được cái tôi muốn bây giờ. Nhưng rồi bạn có đến với tôi nữa hay không?
Trận Thắng chốc lát thực sự là một trận Thua lâu dài, nếu tôi không
được tiếp tục làm ăn lâu dài với bạn. Cho nên, một sự Thắng/Thua tùy
thuộc lẫn nhau, trên thực tế là một sự Thua/Thua về lâu dài.

Nếu
chúng ta sử dụng Thua/Thắng, hình như chúng ta có thể đạt được cái mình
muốn lúc đó. Nhưng điều đó sẽ ảnh hưởng đến thái độ của tôi khi làm
việc với bạn, về hoàn thành hợp đồng? Tôi có thể sẽ không còn lo làm
cho bạn vui lòng. Tôi có thể mang vết sẹo chiến đấu của tôi vào bất kỳ
cuộc thương lượng nào trong tương lai. Thái độ của tôi đối với bạn và
công ty bạn có thể lan đi khi tôi hợp tác với người khác. Thế là chúng
ta lại nằm trong Thua/Thua. Thua/Thua rõ ràng không đứng vững trong
hoàn cảnh nào cả.


nếu tôi tập trung vào một cuộc Thắng của bản thân mà không hề xem xét
quan điểm của bạn, thì không có cơ sở cho bất kỳ mối quan hệ có lợi nào.

Về
lâu dài, nếu cả hai chúng ta không thắng thì cả hai đều thua. Vì vậy
tại sao Thắng/Thắng là biện pháp duy nhất đúng trong thực tế tùy thuộc
lẫn nhau.

Một
lần, tôi làm việc với một người khách, giám đốc của một chuỗi cửa hàng
bán lẻ lớn. Ông ta nói: “Ý kiến Thắng/Thắng nghe có vẻ hay đấy nhưng
xem ra quá lý tưởng. Giới kinh doanh cứng rắn và có đầu óc thực tế
không như vậy. Ở đâu cũng có Thắng/Thua, nếu anh không dám chơi thì anh
không làm ăn được”.

“Đúng đấy!”. Tôi nói. “Ông hãy áp dụng Thắng/Thua với khách hàng của ông đi. Có thực tế không?”

“Không”. Ông trả lời.

“Tại sao?”.

“Tôi sẽ mất khách”.

“Thế thì áp dụng Thua/Thắng cho cửa hàng. Có thực tế không?”

“Không. Sẽ không có dự trữ, không có việc làm”.

Sau khi xem xét mọi biện pháp, cuối cùng chỉ có Thắng/Thắng là tiếp cận duy nhất thực tế.
”Tôi cho rằng điều này cũng đúng với khách hàng”. Ông ta thừa nhận. “Nhưng không đúng với những người cung ứng”.

“Ông cũng là khách hàng của người cung ứng”. Tôi nói. “Tại sao lại không áp dụng nguyên lý đó?”

“Vâng, chúng tôi vừa mới thảo thuận những hợp đồng với những chủ cửa hàng ở thị tứ
và những ông chủ nhỏ”. Ông nói. “Chúng tôi áp dụng thái độ Thắng/Thắng.
Chúng tôi cởi mở, biết điều, hòa giải với nhau. Nhưng người ta thấy
rằng cách cư xử này mềm và yếu, và họ làm cho chúng tôi khánh kiệt”.

“Vậy tại sao ông lại áp dụng Thua/Thắng” Tôi hỏi.

“Tôi không làm thế. Chúng tôi áp dụng Thắng/Thắng”.

“Tôi nghĩ rằng ông vừa nói họ làm cho ông khánh kiệt”.

“Vâng, tôi nói thế”.

“Nói cách khác là ông thua”.

“Đúng”

“Và họ thắng”.

“Đúng”

“Vậy cái đó gọi là gì?”

Khi
ông ta nhận thức ra cái gì mà ông ta gọi là Thắng/Thắng thực sự là
Thua/Thắng, ông ta bàng hoàng. Và khi chúng tôi xem xét ảnh hưởng lâu
dài của Thua/Thắng, các tình cảm bị dồn nén, các giá trị bị dẫm đạp, sự
giận dữ sôi sục dưới bề mặt của mối quan hệ, chúng tôi đồng ý với nhau
rằng cả hai bên đều thua.

Nếu
người đó có một thái độ thực sự Thắng/Thắng, ông ta giữ được quá trình
giao thiệp lâu hơn, nghe các ông chủ nhiều hơn, sau đó mạnh dạn hơn
trình bày quan điểm của mình. Ông ta sẽ tiếp tục trên tinh thần
Thắng/Thắng cho đến khi đạt được một giải pháp mà cả hai đều cảm thấy
tốt. Và giải pháp đó, Giải pháp thứ ba, sẽ là hiệp đồng – có thể có
những cái cả hai đều không nghĩ cho mình.

Thắng/Thắng hoặc không hợp đồng

Nếu
những cá nhân này không thỏa thuận được một giải pháp hiệp đồng – một
giải pháp cả hai đều chấp nhận được – thì họ đi đến một hình thức cao
hơn của Thắng/Thắng là Thắng/Thắng hoặc Không hợp đồng.

Không hợp đồng
cơ bản có nghĩa là nếu chúng ta không tìm được một giải pháp có lợi cho
cả hai bên – chúng ta lẩn tránh không có dự định, không có các bản hợp
đồng. Tôi không thuê bạn hoặc chúng ta không có sự phân công nhau đặc
biệt, vì rõ ràng lợi ích của chúng ta hay mục đích của
chúng ta ngược với nhau. Thừa nhận trực diện vấn đề tốt hơn nhiều so
với để cho nó xuôi dòng khi những dự định làm cho cả hai bên đều vỡ
mộng.

Khi
bạn chọn Không hợp đồng, bạn cảm thấy được giải phóng vì bạn không cần
phải điều khiển ai cả, bạn được tự do đẩy mạnh chương trình công tác
của bạn, đến nơi bạn cần đến, bạn có thể cởi mở, bạn có thể thực sự cố
gắng tìm hiểu các vấn đề sâu hơn giải thích lập trường của đôi bên.

Khi
chọn Không hợp đồng, bạn có thể thành thực nói: “Tôi chỉ muốn
Thắng/Thắng”. Tôi muốn thắng mà tôi muốn bạn cũng thắng. Tôi muốn làm
theo cách của tôi khi bạn không cảm thấy cách đó là tốt. Mặt khác, tôi
nghĩ rằng bạn cảm thấy tốt nếu bạn làm theo cách của bạn và tôi nhượng
bộ. Cho nên chúng ta hãy làm việc theo Thắng/Thắng. Chúng ta hãy thực
sự cố gắng tìm cho được giải pháp đó. Nhưng nếu chúng ta không tìm được
chúng ta tán thành không hợp đồng gì cả. Không hợp đồng tốt hơn là thực
hiện một hợp đồng không tốt cho cả hai. Sau này, sẽ có lúc chúng ta hợp
tác với nhau.

Sau
nhiều lần học quan niệm Thắng/Thắng hoặc Không hợp đồng, một giám đốc
công ty phần mềm máy tính nhỏ trao đổi với tôi kinh nghiệm sau đây.

“Chúng
tôi đã triển khai một phần mềm mới và ký hợp đồng năm năm bán cho một
ngân hàng đặc biệt. Giám đốc ngân hàng rất phấn khởi nhưng nhân viên
không thật sự đồng tình với quyết định này.

“Khoảng
một tháng sau, ngân hàng này thay đổi giám đốc. Ông giám đốc mới đến
gặp chúng tôi và nói: “Tôi không thoải mái với những chuyển đổi của
phần mềm này. Trong tay tôi là một mớ bòng bong. Tất cả những người của
tôi đều nói rằng họ không thực hiện được và tôi thực sự cảm thấy không
thúc đẩy thực hiện hợp đồng đúng thời hạn được”.

“Công
ty của tôi đang rất khó khăn về tài chính. Tôi biết tôi có đầy đủ pháp
lý để bắt thi hành hợp đồng. Nhưng tôi tin ở lợi ích của nguyên lý
Thắng/Thắng”.

Cho
nên, tôi bảo ông ta: “Chúng ta có bản hợp đồng. Ngân hàng của ông đã
bảo đảm sản phẩm và dịch vụ của chúng tôi để chúng tôi chuyển đổi cho
các ông chương trình này. Nhưng chúng tôi hiểu ông không vui vẻ gì về
vấn đề này. Cho nên, điều mà chúng tôi muốn làm là để cho ông rút khỏi
hợp đồng, trả lại cho ông tiền gửi, và sau này, nếu ông cần tìm một
giải pháp phần mềm, xin mời ông đến gặp chúng tôi”. Đúng là tôi đã từ
bỏ một hợp đồng 84.000 đôla. Đó gần như là một vụ tự tử về tài chính.
Nhưng tôi cảm thấy rằng, về lâu dài, nếu nguyên lý này đúng, hợp đồng
sẽ quay lại và chúng tôi sẽ thu lãi.

Ba
tháng sau, ông giám đốc mới gọi tôi: “Chúng tôi sắp thay đổi quá trình
xử lý số liệu”. Ông ta nói. “và tôi muốn làm ăn với ông”. Chúng tôi ký
hợp đồng 240.000 đôla.

Mọi
cái kém hơn Thắng/Thắng trong thực tế tùy thuộc lẫn nhau chỉ là một thứ
phẩm nghèo nàn ảnh hưởng đến quan hệ lâu dài. Cái giá của ảnh hưởng này
cần phải được xem xét cẩn thận. Nếu bạn không đạt được một sự
Thắng/Thắng thực sự thì tốt hơn hết là áp dụng Không hợp đồng.

Thắng/Thắng
hoặc Không hợp đồng đem lại sự tự do về tình cảm to lớn trong quan hệ
gia đình. Nếu các thành viên trong gia đình không thể thỏa thuận với
nhau về sử dụng video mà ai cũng thích, đơn giản là họ có thể quyết
định làm cái gì khác – Không hợp đồng hơn là để cho một số vui thú buổi
tối mà một số khác lại không vui.

Tôi
có một người bạn mà cả gia đình là một ban ca nhạc trong nhiều năm. Khi
họ còn trẻ, người bạn tôi biên soạn lại nhạc, may trang phục, đệm
piano, chỉ huy biểu diễn.

Khi
các con lớn lên, sự thưởng thức âm nhạc của chúng thay đổi. Chúng muốn
nói nhiều hơn trong biểu diễn và trang phục của chúng. Chúng không nghe
theo sự chỉ dẫn của mẹ nữa.

Do
bản thân bà cũng đã có nhiều năm kinh nghiệm biểu diễn và cảm thấy nhu
cầu của những người già ở nhà nghỉ, nơi chúng định biểu diễn, nên bà
không nhận thấy rằng nhiều ý kiến của các con đưa ra là xác đáng. Tuy
nhiên, bà cũng thừa nhận các con cần phải thể hiện mình và cần phải góp
phần vào quá trình giải quyết.

Cho
nên, bà đã áp dụng phương án Thắng/Thắng hoặc Không hợp đồng. Bà nói
với các con rằng bà muốn đi đến một sự nhất trí mà ai cũng vừa lòng
hoặc là các con mỗi người tự lựa chọn lấy một cách nào đó hợp với tài
năng mình nhất. Kết quả là ai cũng cảm thấy thoải mái, tự do thể hiện
cảm xúc của mình khi áp dụng phương án Thắng/Thắng vì họ biết rằng đồng
ý hay không thì cũng không ảnh hưởng gì đến tình cảm giữa họ cả.

Tiếp
cận Thắng/Thắng hoặc Không hợp đồng là thực tế nhất lúc bắt đầu một
quan hệ làm ăn hoặc một công việc khó khăn. Trong quan hệ làm ăn tiếp
theo, Không hợp đồng không còn là một sự lựa chọn có sức sống để tạo ra
những vấn đề nghiêm túc, đặc biệt trong công việc gia đình hoặc công
việc làm ăn, dựa trên tình bạn. Để bảo vệ quan hệ, đôi khi người ta
chịu hết thỏa hiệp này sang thỏa hiệp khác trong nhiều năm, nghĩ đến
Thắng/Thua hoặc Thua/Thắng ngay cả khi nói về Thắng/Thắng. Điền này tạo
nên những vấn đề quan trọng cho người và công việc, đặc biệt nếu sự
cạnh tranh tiến hành theo Thắng/Thắng và hiệp đồng.

Không
có Không hợp đồng, nhiều công việc làm ăn sẽ xấu đi và/hoặc thất bại,
hoặc chuyển sang tay của những nhà quản lý chuyên nghiệp. Kinh nghiệm
chỉ ra rằng trong công việc gia đình hoặc trong công việc làm ăn giữa
bạn bè với nhau, tốt hơn hết là thừa nhận khả năng Không hợp đồng và
xây dựng một loại thỏa thuận mua/bán để kinh doanh có thể phát đạt mà
không phương hại đến mối quan hệ,


nhiên có nhiều mối quan hệ trong đó Không hợp đồng không thể tồn tại
được. Tôi không thể bỏ mặc con cái vợ/chồng tôi cho Không hợp đồng (tốt
hơn hết là thỏa hiệp, nếu cần đó là một hình thức thấp của
Thắng/Thắng). Nhưng trong nhiều trường hợp có thể thương lượng được với
một thái độ Thắng/Thắng hoặc Không hợp đồng đầy đủ. Và sự tự do trong
trường hợp này thật khó tin.

NĂM KHÍA CẠNH CỦA THẮNG/THẮNG

Suy
nghĩ Thắng/Thắng là thói quen của sự lãnh đạo giữa cá nhân với cá nhân.
Nó đòi hỏi sự rèn luyện từng thiên tư của con người – về ý thức, tưởng
tượng, lương tâm, và ý chí độc lập – trong các mối quan hệ với những
người khác. Nó đòi hỏi học tập lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, cùng có
lợi.

Phải
thật can đảm và thật quan tâm để tạo ra những lợi ích chung này, đặc
biệt khi chúng ta tác động qua lại với những người đã ghi sâu kịch bản
Thắng/Thua.

Đó
là tại sao thói quen này đòi hỏi phải có những nguyên lý của sự lãnh
đạo cá nhân với cá nhân. Một sự lãnh đạo của cá nhân với cá nhân yêu
cầu phải có một tầm nhìn xa, phải có sự chủ động tích cực và sự an
toàn, sự định hướng, sự khôn ngoan và những khả năng xuất phát từ sự
lãnh đạo cá nhân có trung tâm nguyên lý.

Nguyên
lý của Thắng/Thắng là cơ sở để thành công trong mọi tác động qua lại
của chúng ta, nó bao gồm năm khía cạnh tùy thuộc lẫn nhau cụa cuộc
sống. Nó bắt đầu bằng tính cách chuyển sang quan hệ, từ đó xuất phát thỏa thuận. Nó được nuôi dưỡng trong một môi trường ở đó cấu trúccác hệ thống đều dựa trên Thắng/Thắng. Nó cần một quá trình. Chúng ta không thể đạt được mục đích Thắng/Thắng với những ý nghĩ Thắng/Thua hoặc Thua/Thắng.

Sơ đồ sau đây chỉ ra năm khía cạnh đó liên hệ với nhau như thế nào.

Bây giờ, chúng ta hãy lần lượt xét từng khía cạnh.

Tính cách

Tính
cách là nền tảng của Thắng/Thắng, và mọi thứ khác đều xây dựng trên nền
tảng này. Có ba nét tính cách chủ yếu của mẫu Thắng/Thắng.

SỰ
CHÍNH TRỰC. Chúng ta đã định nghĩa sự chính trực là giá trị mà chúng ta
đặt lên bản thân chúng ta. Các thói quen 1, 2, 3 giúp ta duy trì và
phát triển sự chính trực. Khi chúng ta xác định rõ ràng giá trị của
chúng ta, tổ chức và thực hiện các giá trị đó một cách tích cực hàng
ngày, chúng ta phát triển sự tự ý thức và ý chí độc lập bằng cách hứa
và giữ lời hứa, cam kết và giữ lời cam kết một cách có ý nghĩa.

Không
có cách gì để đạt được một thắng lợi trong cuộc sống của chúng ta nếu
trong ý thức sâu xa chúng ta không biết thắng lợi được cấu tạo như thế
nào, trên thực tế, cái gì là hòa hợp với các giá trị sâu sắc kín nhất
trong tâm hồn chúng ta. Và nếu chúng ta không thể cam kết và giữ lời
cam kết với bản thân và với người khác, sự cam kết của chúng ta trở nên
vô nghĩa. Chúng ta biết điều đó. Người khác biết điều đó. Người ta cảm
thấy có sự lừa dối và giữ thế thủ. Không có cơ sở cho lòng
tin, và sự Thắng/Thắng trở thành một kỹ thuật hời hợt không có hiệu
quả. Sự chính trực chính là viên đá tảng trong nền móng.

SỰ CHÍN CHẰN. Chín chắn là sự cân đối giữa lòng can đảm và sự quan tâm.
Nếu một người có thể biểu lộ tình cảm và lòng tin với sự can đảm cân
đối với sự quan tâm đối với tình cảm và lòng tin của người khác thì
người đó là chín chắn, đặc biệt nếu vấn đề là rất quan trọng đối với cả
hai.

Nếu
bạn xem xét nhiều trắc nghiệm tâm lý sử dụng cho các mục đích cho thuê,
quảng cáo, huấn luyện, các bạn sẽ thấy rằng chúng đều được thiết kế để
đánh giá sự chín chắn đó. Dù cho nó được gọi là sự cân đối giữa sức
mạnh bản thân và sự thấu cảm, là sự tự tin và tôn trọng các sự cân đối
khác, là sự cân đối giữa sự quan tâm đến con người và sự quan tâm đến
công việc, “tôi OK, anh OK” trong ngôn ngữ giao dịch hoặc 9.1, 1.9,
5.5, 9.9 trong ngôn ngữ về hệ thống quản lý, thì phẩm chất phải có là
sự cân đối của cái mà tôi gọi là sự can đảm và sự quan tâm.

Sự
tôn trọng phẩm chất này ăn sâu vào lý thuyết về tác động qua lại của
con người, quản lý và lãnh đạo. Nó là sự hiện thân sâu sắc của sự cân
bằng P/PC. Khi tập trung can đảm để có được quả trứng vàng thì phải
quan tâm đến phúc lợi lâu dài của những cổ đông khác. Nhiệm vụ cơ bản
của lãnh đạo là tăng mức sống và chất lượng cuộc sống của tất cả các cổ
đông.

Nhiều
người có suy nghĩ rằng chỉ có hai cách, có hoặc không. Họ nghĩ rằng nếu
bạn tế nhị thì bạn không cứng rắn. Nhưng Thắng/Thắng lại vừa tế nhị lại
vừa cứng rắn. Nó cứng rằn hơn Thắng/Thua hai lần. Để thực hiện
Thắng/Thắng không những bạn phải tế nhị mà bạn còn phải cản đảm nữa.
Bạn không chỉ phải dứt khoát mà còn phải được tin cậy, không những phải
ân cần chu đáo, tình cảm mà cần phải mạnh mẽ. Làm như vậy để đạt được
sự cân đối giữa lòng can đảm và sự quan tâm, bản chất của sự chín chắn
thực sự và là cơ sở của Thắng/Thắng.

Nếu
tôi can đảm có thừa nhưng lại thiếu quan tâm người khác thì tôi nghĩ
như thế nào? Thắng/Thua. Tôi có sức mạnh và chỉ hạn chế trong bản thân
tôi. Tôi có can đảm để giữ cái tôi tin, nhưng tôi không quan tâm tới
cái bạn tin.

Để bù bào sự thiếu chín chắn nội tâm và sức mạnh của tình cảm, tôi có thể vay mượn sức mạnh ở địa vị và quyền lực hoặc từ các thư ủy nhiệm, từ cấp cao hơn, từ các liên kết.

Nếu
tôi rất quan tâm nhưng lại thiếu can đảm, tôi nghĩ đến Thua/Thắng. Tôi
rất quan tâm đến những điều những điều bạn tin chắc và các nguyện vọng
của bạn mà không đủ can đảm để nói lên và thực hiện nguyện vọng của
mình.

Lòng
can đảm và sự quan tâm cao là hai yếu tố chủ yếu của tư tưởng
Thắng/Thắng. Đó là sự cân đối, dấu hiệu của sự chín chắn. Nếu tôi có sự
cân đối đó, tôi có thể nghe, có thể hiểu được rõ ràng, những cũng có
thể can đảm đối đầu.

TÂM
TRẠNG PHONG PHÚ. Nét của tính cách thứ ba cần thiết cho Thắng/Thắng là
tâm trạng phong phú, đó là mẫu được thể hiện đầy đủ ra ngoài của mọi
người.

Đa
số người ta đều có kịch bản sâu sắc mà tôi gọi là tâm trạng nghèo nàn.
Họ thấy đời bất quá chỉ có một cái bánh ngọt. Và khi ai đó được một mẫu
bánh, thì có nghĩa là người khác sẽ được ít đi. Tâm trạng nghèo nàn là
mẫu tổng bằng không của cuộc đời.

Người
có tâm trạng nghèo nàn chia sẻ rất khó khăn tiếng tăm và vinh dự, quyền
lực hoặc lợi nhuận, ngay cả với những người đã giúp họ trong sản xuất.
Cũng gay go lắm họ mới thực sự vui mừng trước thành công của người khác
, ngay cả, và đôi khi đặc biệt đối với những người trong gia đình họ,
bạn bè thân thiết của họ và những người cộng tác với họ. Hình như họ
cảm thấy bị mất mát khi ai đó có tiếng tăm và thu được một món lợi bât
ngờ hoặc đạt được một thành tựu đáng kể.

Mặc
dù họ nói những lời chúc mừng thành công của người khác nhưng trong
thâm tâm, họ đứt từng khúc ruột. Ý thức về giá trị của họ xuất phát từ
sự so sánh, và thành công của người khác, ở một mức độ nào đó có nghĩa
là sự thất bại của họ. Nhiều người có thể là sinh viên “loại A”, nhưng
chỉ có một người là “số 1”. “Thắng” đơn giản có nghĩa là “đánh bại”.

Thường
thường, người có tâm trạng nghèo nàn che giấu những hy vọng thầm kín
muốn những người khác chịu rủi ro, không phải là những rủi ro ghê gớm,
nhưng vẫn là rủi ro, có thể giữ họ “tại chỗ”. Lúc nào họ cũng so bì,
cũng ganh tị. Họ ra sức nắm lấy sự vật hoặc con người nhằm tăng 1y
nghĩa giá trị của họ.

Họ
muốn người khác phải làm theo họ. Họ thường muốn vô hiệu hóa những
người này và tụ tập quanh mình những người chỉ biết nghe lời, những
người không thách thức họ, những người yếu kém hơn họ.

Những
người có tâm trạng nghèo nàn đều là thành viên một đội bổ sung. Họ coi
những cài gì khác với họ đều là sự chống đối và sự phản bội.

Mặt
khác, Tâm trạng phong phú xuất phát từ ý thức nội tâm sâu xa về giá trị
và an toàn cá nhân. Đó là mẫu ở bên ngoài và đủ để dành cho mọi người.
Nó chia sẻ thành tích, tiếng tăm lợi ích, quyết định. Nó mở ra các khả
năng, các sự lựa chọn, các biện pháp và sự sáng tạo.

Tâm
trạng phong phú đem lại niềm vui cá nhân, sự hài lòng, sự hoàn thành
các Thói quen 1,2,3 và đem chúng ta ra ngoài, đánh giá cao sự độc nhất
vô nhị, sự định hướng bên trong và bản chất tích cực của người khác. Nó
thừa nhận khả năng vô hạn trong sự tăng trưởng và phát triển tác động
lẫn nhau một cách tích cực để tạo ra những Biện pháp thứ ba.

Thắng
lợi công cộng không có nghĩa là sự thắng lợi vượt lên trên người khác.
Nó có nghĩa là thắng lợi trong sự tác động quan lại có hiệu quả, mang
lại lợi ích chung cho mọi người cùng tham gia. Thắng lợi công cộng có
nghĩa là cùng nhau làm việc cùng nhau giao tiếp, cùng nhau làm cho sự
việc xảy đến, sự việc này không thể có được nếu mỗi người làm việc
riêng lẻ. Và Thắng lợi công cộng là sự phát tiết ra ngoài của mẫu Tâm
trạng phong phú.

Một
tính cách giàu chính trực, chín chắn và có Tâm trạng phong phú có sự
chân thành vượt lên mọi kỹ thuật hoặc không có kỹ thuật, trong tác động
qua lại giữa con người.

Tôi
tìm thấy một điều đặc biệt giúp ích cho những người có tư tưởng
Thắng/Thua phát triển tính cách Thắng/Thắng là hợp tác với một mẫu hoặc
một người bậc thầy thực sự suy nghĩ về Thắng/Thắng. Khi một người đã có
ấn tượng sâu sắc về Thắng/Thua hoặc một triết lý khác và
thường xuyên hợp tác với những người cũng có ấn tượng như vậy thì họ
không có mấy cơ hội để nhìn thấy và thể nghiệm lý thuyết Thắng/Thắng
trong hành động. Cho nên tôi khuyên đọc các sách văn học gợi cảm hứng
như tự truyện của Anwar Sadat, “Đi tìm sự đồng nhất”, xem các phim như
“Những cỗ xe phun lửa”, các vở kịch như “Những người khốn khổ”, những
tác phẩm nghệ thuật đó sẽ tiết lộ các mẫu Thắng/Thắng cho bạn.

Nhưng
phải nhớ rằng nếu chúng ta tìm tòi kỹ năng trong bản thân chúng ta,
vượt qua thái độ và hành vi học tập được, vượt qua kịch bản thì giá trị
chân thực của Thắng/Thắng cũng như nhiều nguyên lý đúng đắn khác, nằm
trong cuộc sống của chúng ta.

Các mối quan hệ

Trên
nền tảng của tính cách, chúng ta xây dựng và duy trì các mối quan hệ
Thắng/Thắng. Tín nhiệm, Tài khoản Ngân hàng tình cảm là cốt lõi của
Thắng/Thắng. Không có tín nhiệm chúng ta thiếu sự tin cậy để học tập
lẫn nhau và giao tiếp một cách cởi mở, và cùng nhau sáng tạo thực sự.

Nhưng
nếu Tài khoản Ngân hàng tình cảm của chúng ta dồi dào, sự tin cậy không
còn là một vấn đề nữa. Các dự trữ đã đủ để chúng ta tôn trọng lẫn nhau
một cách sâu sắc. Chúng ta tập trung vào các vấn đề, không tập trung
vào nhân cách hoặc địa vị.

Bởi
vì chúng ta tín nhiệm lẫn nhau, chúng ta thật sự cởi mở, chúng ta nói
hết ý định của mình. Ngay cả khi nhìn nhận vấn đề có khác, tôi biết bạn
đang nghe một cách có thiện chí và tôn trọng khi tôi mô tả người phụ nữ
trẻ cho bạn và bạn cũng biết tôi nghe bạn mô tả người phụ nữ già cũng
với thái độ tôn trọng như vậy. Chúng ta đã cam kết với nhau cố gắng
hiểu các quan điểm của nhau một cách sâu sắc và cùng nhau tìm một biện
pháp thứ ba, một biện pháp hiệp đồng, là câu trả lời tốt nhất cho cả
hai chúng ta.

Một
mối quan hệ trong đó Tài khoản Ngân hàng tình cảm khá lớn và cả hai bên
đều cam kết sâu sắc Thắng/Thắng là một cầu bật lấy đà lý tưởng cho sự
hiệp đồng kỳ diệu (Thói quen 6). Mối quan hệ đó không hề làm cho vấn đề
bớt thực tế hoặc quan trọng, cũng không xóa bỏ sự cách biệt trong cách
nhìn. Nhưng nó thủ tiêu năng lượng tiêu cực thường tập trung vào sự
khác biệt giữa nhân cách và địa vị và tạo ra một năng lượng tích cực,
hợp tác tập trung hoàn toàn vào sự hiểu biết các vấn đề và giải quyết
chúng một cách có lợi cho cả hai bên.

Nhưng
nếu không có loại quan hệ ấy? Nếu bạn phải thỏa thuận với ai đó chưa hề
nghe nói đến Thắng/Thắng và đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của kịch bản
Thắng/Thua hoặc một lý thuyết nào khác?

Giải
quyết Thắng/Thua là một trắc nghiệm thực sự của Thắng/Thắng. Những vấn
đề sâu sắc và những khác biệt cơ bản đều phải giải quyết. Nhưng điều
này sẽ dễ dàng hơn nhiều khi cả hai bên đều hiểu biết và cam kết điều đó, và trong mối quan hệ có một Tài khoản Ngân hàng tình cảm dồi dào.

Khi
bạn đối phó với một người có mẫu Thắng/Thua, mối quan hệ vẫn là vấn đề
then chốt. Vị trí tập trung là Vòng ảnh hưởng của bạn. Bạn gửi vào Tài
khoản Ngân hàng tình cảm qua sự lịch thiệp chân thành, sự tôn trọng, sự
đánh giá cao quan điểm của người đó hoặc của người khác.Bạn dừng lại
lâu hơn trong quá trình giao tiếp. Bạn nghe hiểu, nghe sâu hơn, bạn thể
hiện bản thân một cách can đảm hơn. Bạn phản ứng lại. Bạn đi sâu hơn
vào nội tâm để có sức mạnh của tính cách tích cực. Bạn giữ điều đó cho
đến khi người khác bắt đầu thừa nhận rằng bạn chân thành mong muốn một
giải pháp thực sự là thắng lợi cho cả hai. Quá trình này thực sự là một
dự trự to lớn trong Tài khoản Ngân hàng tình cảm.


bạn càng mạnh – tính cách của bạn càng chân thật, trình độ tích cực của
bạn càng cao, bạn càng thực sự gắn bó với Thắng/Thắng – thì ảnh hưởng
của bạn càng có sức mạnh đối với ngưới khác. Đây thực sự là một trắc
nghiệm về sự lãnh đạo giữa cá nhân với nhau, nó vượt qua sự lãnh đạo
quản lý sang sự lãnh đạo biến đổi, biến đổi những cá nhân tham gia cũng
như biến đổi mối quan hệ.

Bởi
vì Thằng/Thắng là một nguyên lý mà người ta có thể làm cho có giá trị
của cuộc sống của chính mình, bạn có thể làm cho nhiều người nhận thức
được rằng có thể thắng đậm hơn họ mong muốn nếu họ phấn đấu cho điều mà
cả hai cùng mong muốn. Nhưng có một số ít người đã ghi sâu tâm trạng
Thắng/Thua đến mức không còn nghĩ được Thắng/Thắng. Do đó cần nhớ rằng
Không hợp đồng cũng là một sự lựa chọn. Hoặc là bạn có thể đôi khi chọn
hình thức thấp của Thắng/Thắng – hiệp đồng.

Điều
quan trọng là phải nhận thấy rằng không phải tất cả mọi quyết định đều
cần phải Thắng/Thắng, ngay cả khi Tài khoản Ngân hàng tình cảm lớn. Vấn
đề then chốt vẫn là mối quan hệ. Thí dụ, nếu bạn và tôi cùng làm việc
với nhau, và bạn nói với tôi: “Anh Stephen, tôi biết anh không thích
quyết định này. Tôi không có thì giờ giải thích cho anh, anh hãy một
mình tìm hiểu lấy. Rất có khả năng anh sẽ thấy mình sai – Nhưng anh có
ủng hộ nó không?”.

Nếu
bạn có một Tài khoản Ngân hàng tình cảm dương, tất nhiên tôi sẽ ủng hộ.
Tôi hy vọng bạn đúng và tôi sai. Tôi sẽ làm cho quyết định của bạn có
kết quả.

Nhưng
nếu không có một Tài khoản Ngân hàng tình cảm và nếu tôi phản ứng, tôi
không ủng hộ thực sự. Tôi có thể nói trước mặt bạn là tôi ủng hộ bạn,
nhưng sau lưng bạn, tôi không thật nhiệt tình, tôi không đầu tư cần
thiết để đạt được kết quả. “Nó không có kết quả”. Tôi nói. “Thế thì bạn
cần tôi làm gì nào?”.

Nếu
tôi phản ứng quá mức, tôi có thể phá hủy quyết định của bạn và làm cái
mà tôi có thể chắc rằng người khác cũng làm như vậy. Hoặc là tôi có thể
“vâng lời một cách láu cá”, làm đúng và chỉ làm những gì bạn bảo tôi
làm, chấp nhận nhưng không chịu trách nhiệm về kết quả.

Trong
năm năm sống ở Anh, tôi thấy rằng xứ này đã hai lần bắt được người ta
bắt được người ta phục tùng vì những người lái tàu láu cá vâng theo tất
cả những quy tắc và thủ tục ghi trên văn bản.

Một
sự thỏa thuận sẽ có ý nghĩa rất nhỏ nếu không có một tính cách và một
cơ sở quan hệ để nâng đỡ về mặt tinh thần. Cho nên chúng ta cần tiếp
cận Thắng/Thắng từ một sự mong muốn chân thành để đầu tư vào quan hệ
làm cho nó trở thành hiện thực.

Những thỏa thuận

Từ
các mối quan hệ tiếp theo là những thỏa thuận xách định và định hướng
cho Thắng/Thắng. Đôi khi những thỏa thuận này gọi là những thỏa thuận thành tích hay những thỏa thuận hợp tác,
hoán vị mẫu của tác động qua lại có hiệu quả từ thẳng đứng sang nằm
ngang, từ giám sát từ bên trên sang sự giám sát, từ xác định địa vị
sang là kẻ chung phần trong thành đạt.

Thỏa
thuận Thắng/Thắng bao hàm một phạm vi rộng các tác động qua lại phụ
thuộc lẫn nhau. Chúng ta đã thảo luận một ứng dụng quan trọng khi chúng
ta nói về sự ủy nhiệm trong câu chuyện “xanh và sạch” ở Thói quen 3.
Năm yếu tố mà chúng ta đã liệt kê ở đó cung cấp cấu trúc cho sự những
thỏa thuận giữa người chủ với người làm công, giữa những người độc lập
cùng nhau thực hiện dự án, giữa các hãng và những người cung ứng – giữa
bất kỳ ai cần tác động qua lại để thắng lợi. Chúng tạo nên một phương
pháp hữu hiệu để làm sáng tỏ và quản lý các dự định giữa những người
cùng tham gia vào bất kỳ nỗ lực tùy thuộc lẫn nhau nào.

Trong sự thỏa thuận Thắng/Thắng, năm yếu tố sau đây rất rõ ràng:

Các kết quả mong muốn (không phải là các phương pháp) xác định phải làm gì và khi nào làm.

Các nguyên tắc chỉ đạo qui định cụ thể các thông số (nguyên lý, chính sách …) trong đó các kết quả được thực hiện.

Các nguồn lực xác định những ủng hộ sẵn có về con người, tài chính, kỹ thuật hoặc tổ chức để giúp hoàn thành các kết quả.

Trách nhiệm định ra tiêu chuẩn của thành tích và thời gian đánh giá.

Các
kết quả xác định cụ thể – tốt và xấu – tự nhiên và logic – những cái
đang làm và sẽ xảy đến như là kết quả của việc đánh giá.

Năm
yếu tố này đem lại cho những thỏa thuận Thắng/Thắng một cuộc sống
riêng. Một sự hiểu biết lẫn nhau rõ ràng và sự thỏa thuận tại chỗ trong
những lĩnh vực này tạo ra một chuẩn dựa vào đó người ta có thể đánh giá
thành công của bản thân.

Sự
giám sát độc đoán truyền thống là một mẫu Thắng/Thua. Đó cũng là kết
quả của một sự rút ra quá mức từ Tài khoản Ngân hàng tình cảm. Nếu bạn
không có lòng tin hoặc một viễn cảnh chung về kết quả mong muốn, bạn sẽ
có xu hướng đe dọa, kiểm tra và điều khiển. Vì không có tín hiệu, cho
nên bạn cảm thấy phải kiểm tra người ta.

Nhưng
nếu tín nhiệm được tích lũy cao, phương pháp của bạn là gì? Cứ để cho
họ làm theo cách của họ. Chừng nào bạn có một sự thỏa thuận Thắng/Thắng
và họ biết chính xác cái gì đã được dự định thì vai trò của bạn là một
nguồn giúp đỡ và nhận những báo cáo có trách nhiệm của họ.

Đối
với tinh thần con người, để người khác tự đánh giá mình sẽ cao thượng
hơn mình đánh giá họ nhiều. Và trong một trình độ tín nhiệm cao, điều
đó lại càng chính xác. Trong nhiều trường hợp, người ta biết từ trong
lòng rằng sự vật tiến triển tốt hơn là sự ghi nhận. Sự nhận thức rõ
thường chính xác hơn bất kỳ sự nhận xét hay sự đánh giá nào.

Huấn luyện quản lý theo Thắng/Thắng

Nhiều
năm trước đây, tôi tham gia một cách không trực tiếp vào một dự án tư
vấn với một tổ chức ngân hàng có nhiều chi nhánh. Họ yêu cầu chúng tôi
đánh giá và cải tiến chương trình huấn luyện quản lý của họ; chương
trình này được tài trợ một ngân sách 750.000 đôla/năm. Chương trình bao
gồm việc tuyển lựa những sinh viên đã tốt nghiệp đại học và giao cho họ
nhiệm vụ phải qua 12 lần nhận việc ở tất cả các ban, mỗi lần hai tuần
tức là hơn sáu tháng để họ có một nhận thức chung về ngành. Họ mất hai
tuần cho các khoản cho vay thương mại, hai tuần cho các khoản cho vay
công nghiệp, hai tuần tiếp thị, hai tuần điều hành … Vào cuối giai đoạn
sáu tháng, họ được giao nhiệm vụ trợ lý trong các chi nhánh.

Nhiệm
vụ của chúng tôi là đánh giá giai đoạn huấn luyện chính thức trong sáu
tháng. Khi bắt đầu, tôi phát hiện rằng phần khó nhất của nhiệm vụ là có
một hình ảnh rõ ràng về kết quả mong muốn. Chúng tôi đặt cho những
người lãnh đạo tối cao câu hỏi then chốt hóc búa: “Những người đó có
khả năng làm gì khi họ hoàn tất chương trình?”. Các câu trả lời chúng
tôi nhận được rất mơ hồ và thường mâu thuẫn với nhau.

Chương
trình huấn luyện giải quyết các phương pháp chứ không phải kết quả; cho
nên chúng tôi đề nghị họ có một chương trình huấn luyện thí điểm dựa
trên một mẫu khác gọi là “Giáo dục trong đó học viên tự làm chủ”. Đây
là một sự thỏa thuận Thắng/Thắng bao gồm việc xác định các mục tiêu cụ
thể và các tiêu chuẩn chứng minh mục tiêu được hoàn thành và xác định
các nguyên tắc chỉ đạo, các nguồn lực, trách nhiệm, và kết quả khi mục
tiêu đạt được. Trong trường hợp này thì kết quả là được đề bạt làm trợ
lý giám đốc,họ được giao những công việc họ đã được học và được tăng
lương đáng kể.

Chúng
tôi phải thực sự thúc ép để có được những mục tiêu. “Ông muốn họ hiểu
về kế toán như thế nào? Về tiếp thị? Về các khoản nợ bất động sản?” Và
chúng tôi lập ra môt danh mục. Cuối cùng chúng tôi có hơn một trăm mục
tiêu. Chúng tôi đơn giản hóa, bỏ bớt, và hợp lại cho đến khi có được 39
mục tiêu, các hành vi cụ thể cùng với các tiêu chuẩn gắn liền với các
mục tiêu đó.

Người
được huấn luyện tích cực tận tụy vì có động cơ rõ rệt là được đề bạt và
được tăng lương khi đáp ứng được các tiêu chuẩn. Đó là một thắng lợi
lớn đối với họ, đó cũng là một thắng lợi lớn đối với công ty bởi vì họ
có được các trợ lý giám đốc chi nhánh đáp ứng được các tiêu chuẩn định
hướng kết quả thay vào mười hai chỗ trống trong hoạt động.

Cho
nên, chúng tôi giảng cho các học viên hiểu sự khác nhau giữa “giáo dục
trong đó người học tự làm chủ” và “giáo dục do cơ quan kiểm tra”. Cơ
bản, chúng tôi nói: “đây là các mục tiêu và các tiêu chuẩn. Đây là các
nguồn lực trong đó có học tập lẫn nhau. Các bạn hãy cố lên. Khi các bạn
đạt được tiêu chuẩn, các bạn sẽ được đề bạt trợ lý giám đốc”.

Họ
hoàn thành trong ba tuần rưỡi. Hoán vị mẫu huấn luyện đã giải phóng
được động cơ thúc đẩy và tính sáng tạo khó tin mà tin được.

Cũng
như đối với nhiều hoán vị mẫu khác, ở đây cũng có sự chống đối. Hầu hết
các ủy viên chấp hành cao cấp không tin. Khi họ được chỉ cho thấy sự
thật hiển nhiên là các tiêu chuẩn đều đạt, họ vẫn nói: “Những người
được huấn luyện này không có kinh nghiệm. Họ thiếu sự rèn luyện cần
thiết để đủ điều kiện trở thành trợ lý giám đốc như chúng tôi yêu cầu”.

Sau
này nói chuyện với họ tôi mới thấy rằng nhiều người trong số họ thực sự
muốn nói: “Chúng tôi đã phải khổ sở nhiều tuần, lẽ nào các chàng trai
này lại không phải như vậy?” Tất nhiên họ không nói trắng ra như thế mà
nói: “Họ thiếu rèn luyện” là cách nói dễ chấp nhận hơn. Vì những lý do
rõ ràng (bao gồm cả ngân sách 750.000 đôla cho một chương trình sáu
tháng) phòng nhân sự đã bị lật đổ.

Cho
nên, chúng tôi trả lời: “Lịch sự đủ rồi. Hãy để cho chúng tôi triển
khai thêm nhiều mục tiêu nữa và gắn với các tiêu chuẩn. Nhưng hãy để
cho chúng tôi vẫn giữ mẫu “giáo dục trong đó học viên tự làm chủ”.
Chúng tôi đề xuất thêm tám mục tiêu nữa với những tiêu chuẩn rất cao
nhằm đảm bảo với các vị trong ban quản trị rằng những người này đều
được chuẩn bị đầy đủ để làm trợ lý giám đốc chi nhánh và để tiếp tục
phần công việc của chương trình huấn luyện. Sau khi tham gia một số
khóa có áp dụng những tiêu chuẩn này, nhiều vị trong ban quản trị nhận
xét nếu những người huấn luyện đáp ứng được những tiêu chuẩn này, họ
được chuẩn bị tốt hơn hầu hết những người đã quan chương trình sáu
tháng.

Chúng
tôi chuẩn bị cho các học viên đón chờ sự chống đối. Chúng tôi đưa thêm
cho họ các mục tiêu và các tiêu chuẩn mới và nói: “Như chúng tôi dự
kiến, ban quản trị yêu cầu các bạn hoàn thành một số mục tiêu nữa với
những tiêu chuẩn cao hơn trước. Họ bảo đảm với chúng tôi rằng lần này
nếu các bạn đáp ứng được các tiêu chuẩn đó, họ sẽ giao cho các bạn
nhiệm vụ trợ lý giám đốc”. Họ đã tiến hành bằng những phương pháp không
thể ngờ. Họ đến gặp các ủy viên ban quản trị tại các ban như ban kế
toán và nói: “Thưa ông, tôi là một thành viên của chương trình thí điểm
mới goi là “giáo dục trong đó học viên tự làm chủ” và ông đã tham gia
vào việc thảo ra các mục tiêu và các tiêu chuẩn đó”.

“Tôi
phải đáp ứng sáu tiêu chuẩn tại ban này. Tôi có thể đáp ứng được ba mục
tiêu chuẩn với các kỹ năng tôi học được ở trường đại học. Tôi còn đạt
được một tiêu chuẩn nữa do tôi học được trong một quyển sách. Tôi học
được tiêu chuẩn thứ năm ở Tom, người bạn được ông huấn luyện tuần
trước. Tôi còn một tiêu chuẩn nữa phải đáp ứng. Tôi mong ông hoặc một
người nào đó trong ban bớt chút thì giờ chỉ giúp tôi”. Thế là anh ta
mất nửa ngày ở ban đó chứ không phải là hai tuần.

Những
học viên này cộng tác với nhau, trao đổi ý kiến với nhau và họ hoàn
thành các mục tiêu thêm vào trong một tuần rưỡi. Chương trình sáu tháng
rút xuống còn 5 tuần mà kết quả lại được nâng lên đáng kể.

Kiểu
suy nghĩ này có thể ảnh hưởng tương tự đến mọi lĩnh vực của đời sống tổ
chức nếu người ta có can đảm khai thác các mẫu của họ và tập trung vào
Thắng/Thắng. Tôi luôn luôn ngạc nhiên về các kết quả đưa đến cho cá
nhân cũng như tổ chức khi những người có trách nhiệm, tích cực, tự định
hướng được tự do hành động khi thi hành nhiệm vụ.

Những thỏa thuận về thành tích của Thắng/Thắng

Tạo
nên những thỏa thuận về thành tích của Thắng/Thắng yêu cần những hoán
vị mẫu hết sức quan trọng. Trung tâm là ở kết quả chứ không phải ở
phương pháp. Đa số chúng ta có xu hướng giám sát phương pháp. Chúng ta
sử dụng ủy nhiệm sai bảo đã được thảo luận trong Thói quen 3, phương
pháp mà tôi đã áp dụng cho Sandra khi tôi yêu cầu cô ấy chụp mấy kiểu
ảnh của cậu con trai chúng tôi đang lướt ván. Nhưng thỏa thuận
Thắng/Thắng tập trung vào kết quả, giải phóng tiềm năng to lớn hơn, xây
dựng PC trong suốt quá trình thay cho chỉ tập trung vào P.

Với
trách nhiệm Thắng/Thắng, người ta tự đánh giá mình, cách đánh giá
truyền thống là bất tiện và thiếu tình cảm. Trong Thắng/Thắng, người ta
tự đánh giá; sử dụng những tiêu chuẩn mà chính bản thân họ đã giúp tạo
ra. Và nếu bạn làm điều đó đúng đắn thì người khác cũng có thể làm. Với
sự ủy nhiệm Thắng/Thắng, một đứa trẻ lên bảy cũng có thể tự bảo mình
phải làm thế nào cho cái sân “xanh và sạch”.

Kinh
nghiệm tốt nhất của tôi lúc dạy ở đại học là làm cho một người hiểu
được các mục tiêu của Thắng/Thắng bằng cách để cho họ góp phần xây dựng
các mục tiêu đó. “Chúng ta hãy thử làm thế này nhé. Đây là những yêu
cầu cơ bản của những trình độ A, B, C. Mục tiêu của tôi là giúp các bạn
đạt được trình độ A. Bây giờ bạn hãy phân tích những gì mà chúng ta đã
nói về trình độ A. Sau đó mỗi bạn, theo cách hiểu của mình, hãy nêu lên
những cái mình muốn đạt được. Chúng ta sẽ tập hợp tất cả lại, thống
nhất trình độ mà các bạn muốn và cách làm để đạt được trình độ đó”.

Nhà
triết học và cố vấn về quản lý Peter Drucker khuyên sử dụng một “Thư
gửi giám đốc” để nắm được bản chất của sự thỏa thuận về thành tích giữa
người quản lý và người làm công. Sau khi đã thỏa thuận thật sâu, thật
kỹ về các dự định, các nguyên tắc chỉ đạo, các nguồn lực và đảm bảo
chúng phù hợp vói các mục tiêu của tổi chức, người làm công sẽ viết cho
giám đốc một bức thư , tóm tắt nội dung cuộc thảo luận và chỉ ra khi
nào sẽ có cuộc thảo luận tiếp theo để xét lại hoặc đặt kế hoạch cho
những thành tích mới.

Triển
khai sự thỏa thuận về thành tích Thắng/Thắng là hoạt động trung tâm của
quản lý. Với sự thỏa thuận tại chỗ, những người làm công có thể tự quản
lý lấy trong khuôn khổ của bản thỏa thuận đó. Người quản lý có thể sử
dụng nó như một chiếc ô tô dẫn tốc độc trong một cuộc đua. Ông ta có
thể cho công việc khởi động rồi sau đó mới buông ra. Công việc của ông
từ đó về sau chỉ là điều khiển các nút dầu.

Khi
ông chủ trở thành người trợ lý thứ nhất cho mỗi người làm công của mình
thì ông ta có thể kiểm tra được rất nhiều người, có thể bỏ hết các cấp
quản lý và kiểm tra trung gian. Thay vì giám sáu hoặc tám người làm,
ông ta có thể giám sát được 20, 30, 50 hay nhiều hơn thế.

Trong
những thỏa thuận về thành tích Thắng/Thắng, các kết quả là những thành
tựu tự nhiên và logic hơn là do những thưởng phạt độc đoán của người
chịu trách nhiệm.


bốn loại kết quả cơ bản (thưởng và phạt) mà người quản lý hoặc bố mẹ
phải kiểm tra: tài chính, tinh thần, thời cơ và trách nhiệm. Kết quả về
tài chính bao gồm các thứ như,thu nhập, quyền mua bán cổ phiếu, các
khoản phụ cấp hoăc tiền phạt. Kết quả tinh thần hoặc tâm lý bao gồm
thừa nhận, tán thành, tín nhiệm hoặc mất tất cả những cái đó. Trừ khi
người ta cầu tiến để sống sót, sự bù đắp về tinh thần có tính động viên
hơn là sự bù đắp về tài chính. Kết quả về thời cơ bao gồm huấn luyện,
phát triển, bổng lộc và các quyền lợi khác. Trách nhiệm được thực hiện
trong phạm vi và quyền hạn mà cả hai bên có thể mở rộng hoặc thu hẹp.
Những thỏa thuận Thắng/Thắng định rõ kết quả trên một hoặc nhiều lĩnh
vực này mà những người tham gia đều biết trước, cho nên bạn không phải
đắn đo gì. Mọi sự đã rõ ràng ngay từ đầu.

Khi
con gái tôi 16 tuổi, chúng tôi có một sự thỏa thuận Thắng/Thắng về sử
dụng xe của gia đình. Chúng tôi đồng ý với nhau rằng cháu phải theo
đúng luật của địa phương và phải giữ xe sạch, bảo quản xe tốt. Chúng
tôi thống nhất rằng cháu chỉ sử dụng xe vào mục đích chính đáng và lái
xe cho bố mẹ khi cần thiết. Chúng tôi cũng đồng ý với nhau là cháu sẽ
vui vẻ làm việc khác của cháu mà không kêu ca. Đó là những thắng lợi
của chúng tôi.

Chúng
tôi cũng thỏa thuận rằng tôi sẽ cung cấp xe, ét xăng, và tiền bảo hiểm.
Và chúng tôi thống nhất với nhau hàng tuần, cháu sẽ gặp tôi, thường vào
chiều thứ bảy để đánh giá cháu đã thực hiện những thỏa thuận này như
thế nào. Kết quả đã rõ ràng. Nếu cháu tuân thủ những điều đã thỏa
thuận, cháu sẽ được sử dụng xe. Nếu cháu không tuân thủ, cháu sẽ mất
quyền đó.

Sự
thỏa thuận Thắng/Thắng này đã đặt ra một cách rõ ràng sự mong muốn của
cả hai bên ngay từ đầu. Đó là một sự thắng lợi của con gái tôi – được
sử dụng xe – và chắc chắn cũng là thắng lợi của Sandra và tôi. Bây giờ
cháu có thể đáp ứng được nhu cầu đi lại của cá nhân và một số của chúng
tôi. Tôi không phải lo bảo dưỡng xe và giữ cho xe sạch. Và chúng tôi đã
xây dựng được tinh thần nội tại, có nghĩa là tôi không phải trông nom
cháu hoặc cháu hoặc chỉ bảo cho cháu các biện pháp.

Sự
trung thực của cháu, lương tâm, khả năng nhận thức của cháu và Tài
khoản Ngân hàng tình cảm lớn của chúng tôi làm cho cháu tốt hơn lên
không ngừng. Chúng tôi không phải ràng buộc cháu về mặt tình cảm, không
phải cố gắng giám sát mọi hoạt động của cháu hoặc thưởng phạt cháu khi
cháu làm hoặc không làm điều chúng tôi muốn. Chúng tôi có một sự thỏa
thuận Thắng/Thắng và nó đã giải phóng tất cả chúng tôi.

Những
thỏa thuận Thắng/Thắng có khả năng giải phóng rất lớn, nhưng giống như
sản phẩm của các kỹ thuật riêng lẻ, chúng không thể đứng vững. Ngay cả
khi bạn sử dụng chúng ngay từ đầu, bạn cũng không thể duy trì được
chúng nếu không có sự chính trực cá nhân và mối quan hệ dựa trên sự tín
nhiệm.

Một
sự thỏa thuận Thắng/Thắng đích thực là sản phẩm của mẫu, của tính cách
và của các mối quan hệ từ đó nó sinh ra và lớn lên. Trong bối cảnh đó,
nó xác định và chỉ đạo tác động qua lại tùy thuộc lẫn nhau và vì tác
động ngày mà nó được sinh ra.

Các hệ thống

Thắng/Thắng
chỉ có thể tồn tại được trong một tổ chức, khi các hệ thống ủng hộ nó.
Nếu bạn bàn về Thắng/Thắng mà vẫn thưởng cho Thắng/Thua, bạn sẽ có một
chương trình thất bại trong tay bạn.


bản là bạn được cái mà bạn thưởng. Nếu bạn muốn đạt được các mục tiêu
và phản ánh các giá trị vào bản công bố nhiệm vụ của bạn, thì bạn cần
phải sắp xếp lại hệ thống khen thưởng theo các mục tiêu và các giá trị
đó. Nếu bạn không sắp xếp một cách có hệ thống thì bạn không thể làm
như lời bạn nói. Bạn sẽ ở trong tình trạng của người giám đốc mà tôi đã
nói ở trên, ông ta nói hợp tác mà lại thực hành cạnh tranh bằng cách
tạo ra một cuộc “chạy đua đến Bermuda” để nhân viên ông tranh dành nhau.

Tôi
làm việc nhiều năm với một tổ chức nhà nước rất lớn ở Trung Đông. Công
việc tôi làm đầu tiên với tổ chức này là tại một hội chợ bán hàng lớn,
ở đó trên 800 công ty thương mại tập hợp lại theo chương trình khen
thưởng hàng năm. Đó là một cuộc liên hoan nâng đỡ tinh thần, có các dàn
nhạc của trường đại học giúp vui và quần chúng hoan hô cổ vũ.

Trong
số 800 người ở đó có khoảng 40 người được nhận phần thưởng do thành
tích cao như “bán được nhiều hàng nhất”, “có doanh thu cao nhất”, “có
nhiều người đặt hàng nhất”. Có nhiều trò chơi khuyến khích, cổ vũ, hoan
hô lúc phát thưởng. Không còn nghi ngờ gì nữa, bốn mươi người đã thắng.
Nhưng cũng có một nhận thức cơ bản là 760 người thua.

Lập
tức chúng tôi bắt tay vào việc phát triển về giáo dục và tổ chức để sắp
xếp các hệ thống và các cơ cấu của tổ chức theo mẫu Thắng/Thắng. Chúng
tôi thu hút những người ở trình độ bình thường để triển khai các loại
hệ thống có thể khuyến khích họ. Chúng tôi cũng khuyến khích họ hợp tác
và hiệp đồng với nhau để càng có nhiều người đạt được hiệu quả mong
muốn như những thỏa thuận về thành tích mà họ đã xây dựng cho họ.

Lần
hội chợ tiếp theo được tổ chức một năm sau đó, có trên một nghìn công
ty thương mại tham gia và có khoảng 800 người được khen thưởng. Có một
ít người thắng cuộc dựa trên sự so sánh nhưng chương trình tập trung
chủ yếu vào những người đạt được các mục tiêu thành tích tự họ lựa
chọn và vào những tập thể đã đạt được mục tiêu của tập thể. Không cần
phải mời ban nhạc của trường đại học để bày trò phô trương ầm ĩ, để reo
hò nâng cao khí thế một cách giả tạo. Đã có rất nhiều quyền lợi và kích
thích tự nhiên bởi vì người ta chia sẻ với nhau niềm vui, nhiều tổ bán
hàng được khen thưởng cả tổ, kể cả một chuyến du lịch cho tất cả mọi
người.

Điều
đáng ghi nhận là hầu hết 800 người được thưởng năm nay sản xuất tính
theo đầu người về khối lượng và tiền lãi cũng nhiều bằng bốn mươi người
năm trước. Tinh thần Thắng đã nâng cao đáng kể số trứng vàng, đã cho
ngỗng ăn đầy đủ, giải phóng năng lượng lớn và tài năng của con người.
Sự hiệp đồng giữa họ với nhau đã làm cho ai cũng phải ngạc nhiên.

Sự
cạnh tranh chi có chỗ đứng ở ngoài chợ hoặc chỉ có cạnh tranh với thành
tích của năm trước. Có lẽ có cả cạnh tranh với những cơ quan hoặc cá
nhân không có quan hệ tùy thuộc lẫn nhau đặc biệt, không có nhu cầu hợp
tác. Còn sự hợp tác ở nơi làm việc cần thiết cho tự do kinh doanh, cũng
như sự cạnh tranh cần thiết ở ngoài chợ. Tinh thần của Thắng/Thắng
không thể sống sót trong một môi trường cạnh tranh và thù ghét.

Để cho Thắng/Thắng hoạt động, các hệ thống phải ủng hộ nó. Hệ
thống đào tạo, hệ thống lập kế hoạch, hệ thống thông tin, hệ thống lập
ngân sách, hệ thống đền bù tất cả đều phải dựa trên nguyên lý
Thắng/Thắng.

Tôi
cũng cố vấn cho một công ty khác muốn huấn luyện cho nhân viên của mình
về quan hệ giữa con người với nhau. Vần đề chính lại là nhân viên của
họ.

Ông chủ tịch bảo: “Ông cứ đi xuống bất kỳ cửa hàng
nào mà ông thích, và ông sẽ thấy họ đối xử với ông như thế nào. Đúng họ
là những người làm theo lệnh. Họ không biết làm thế nào để gần gũi
khách hàng. Họ không biết sản phẩm, không có kiến thức và kỹ năng về
quá trình bán hàng cần thiết để tạo ra sự hòa hợp giữa sản phẩm và nhu
cầu”

Thế
là, tôi đến nhiều cửa hàng. Và ông ta đúng. Nhưng vẫn chưa có câu trả
lời cho câu hỏi trong đầu tôi: “Cái gì đã tạo nên thái độ này?”.

“Chúng
ta đang ở trung tâm của vấn đề” Ông chủ tịch nói. “Các cửa hàng trưởng
của chúng tôi đang nêu một tấm gương thú vị. Chúng tôi qui định công
việc của họ hai phần ba là bán hàng và một phần ba là quản lý, thế mà
họ lại bán hàng được nhiều hơn mọi người. Tôi mong ông chỉ bảo cho
những người bán hàng”.

Những lời này lóe ra trong tôi một tia sáng: “Chúng ta phải có thêm dữ liệu”. Tôi nói.

Ông
ta không thích thế. Ông ta “đã biết” vấn đề là gì và ông ta muốn xúc
tiến qua đào tạo. Nhưng tôi vẫn giữ ý kiến của mình và trong vòng hai
ngày, chúng tôi khám phá ra thực chất của vấn đề.Do sự xác định công
việc và hệ thống đền bù, những người quản lý đang “giành lấy phần béo
bở”. Họ đứng sau quầy thu tiền và “giành lấy phần béo bở” của công việc
suốt thời gian quy định. Một nửa thời gian bán lẻ diễn ra chậm chạp
vắng vẻ còn nửa kia thì hối hả nhộn nhịp. Cho nên những người quản lý
người bán hàng việc bẩn thỉu – còn họ thì đứng sau máy thu tiền và
hưởng phần béo bở. Đó là lý do tại sao cửa hàng trưởng lại bán được
nhiều nhất.


vậy, chúng tôi thay đổi một hệ thống – hệ thống đền bù – và vấn đề được
sửa chữa trong chốc lát. Chúng tôi đặt ra một hệ thống, theo đó người
cừa hàng trưởng chỉ được bán hàng khi nhân viên của họ bán hàng. Chúng
tôi gắn nhu cầu và mục tiêu của những người quản lý với nhu cầu và mục
tiêu của nhân viên bán hàng. Thế là nhu cầu huấn luyện quan hệ giữa
người với người bỗng nhiên biến mất. Then chốt là triển khai một hệ
thống khen thưởng Thắng/Thắng đích thực.

Lần
khác, tôi làm việc với một giám đốc trong công ty đang yêu cầu đánh giá
chính xác các thành tích. Ông ta đã thất bại khi cho điểm đánh giá một
người quản lý. “Anh ta đáng điểm ba”. Ông nói. “Nhưng tôi cho điểm một”
(có nghĩa là tốt, đề bạt được).

“Tại sao ông cho một?” Tôi hỏi.

“Anh ta đạt yêu cầu số lượng”. Ông ta trả lời.

“Thế tại sao ông nghĩ rằng anh ta đáng điểm ba?”

“Đó là cách anh ta đạt số lượng. Anh ta phớt lờ những người khác, anh ta chà đạp lên họ. Anh ta là một kẻ phá rối”.

“Hình
như anh ta chỉ tập trung vào P, vào sản phẩm. Và anh ta được thưởng vì
thế. Nhưng cái gì xảy ra khi ông ta nói rõ vấn đề đó với anh ta, nếu
ông giúp anh ta hiểu được tầm quan trọng của PC?”

Ông ta nói đã làm thế nhưng vô hiệu.

“Bây
giờ hãy xem tình hình sẽ ra sao nếu ông cùng anh ta ký một hợp đồng
Thắng/Thắng, cả hai cùng thỏa thuận rằng hai phần ba hai phần phần
thưởng do P – tức là do số lượng sản phẩm – và một phần ba kia do PC –
tức là người ta hiểu anh ta như thế nào, loại lãnh đạo gì, giúp đỡ anh
em ra sao, xây dựng tổ ra sao?”

“Cái đó có thể làm cho anh ta chú ý” Ông ta trả lời.

Cho
nên thường thường vấn đề ở trong hệ thống, chứ không phải ở trong con
người. Nếu bạn để những người tốt trong một hệ thống xấu bạn sẽ thu
được kết quả tồi. Bạn phải tưới những cây hoa mà bạn muốn nó trổ hoa.

Khi
người ta thực sự học suy nghĩ theo Thắng/Thắng, người ta có thể đặt ra
những hệ thống để sáng tạo và củng cố nó. Họ có thể biến đổi những tình
thế cạnh tranh không cần thiết thành những tình thế hợp tác và có thể
tác động mạnh mẽ đến hiệu quả bằng cách xây dựng cả P và PC.

Trong
kinh doanh, những người lãnh đạo có thể bố trí các hệ thống, tạo ra
những tổ gồm những người có năng suất cao làm việc cạnh nhau để cạnh
tranh với những tiêu chuẩn hết sức cao.

Trong
giáo dục, thầy giáo có thể sử dụng các hệ thống cho điểm dựa vào thành
tích cá nhân, trong phạm vi những tiêu chuẩn đã được thỏa thuận và có
thể khuyến khích sinh viên hợp tác với nhau một cách có hiệu quả để
giúp đỡ lẫn nhau học tập và đạt kết quả. Trong gia đình, bố mẹ có thể
chuyển trọng tâm từ cạnh tranh sang hợp tác với nhau. Trong các hoạt
động như chơi ném bóng chày chẳng hạn, họ có thể đưa ra kỷ lục gia đình
và cố gắng phá vỡ kỷ lục trước. Họ có thể đặt ra các trách nhiệm trong
nhà với thỏa thuận Thắng/Thắng, xóa bỏ mọi sự trách mắng la rầy, để bố
mẹ chỉ làm những việc mà chỉ bố mẹ mới có thểm làm.

Một
lần, một người bạn cho tôi xem một bức tranh biếm họa trong đó hai em
bé đang nói chuyện với nhau. Một em nói: “Nếu mẹ không đánh thức chúng
mình dậy sớm”. Em kia nói: “Chúng mình sẽ đi học muộn”. Những lời nói
này làm cho tôi chú ý đến bản chất của các vấn đề nảy sinh khi gia đình
không được tổ chức trên cơ sở Thắng/Thắng có trách nhiệm.

Thắng/Thắng
đặt trách nhiệm lên vai cá nhân hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể trong
sự chỉ dẫn rõ ràng và những nguồn lực có sẵn. Nó yêu cầu người ta có
trách nhiệm thực hiện và đánh giá kết quả, và các kết quả đem lại như
là hậu quả tất nhiên của việc thực hiện. Các hệ thống Thắng/Thắng tạo
ra môi trường ủng hộ và củng cố các thỏa thuận về thành tích của
Thắng/Thắng.

Các quá trình

Không
có cách gì đạt được mục đích của Thắng/Thắng với các phương tiện
Thắng/Thua hoặc Thua/Thắng. Bạn không thể nói: “Bạn sẽ suy nghĩ
Thắng/Thắng dù bạn có muốn hay không”. Cho nên vấn đề là làm thế nào để
đi đến một giải pháp Thắng/Thắng”.

Roger
Fisher và William Ury, hai giáo sư luật học tại Harvard đã công bố một
công trình nổi tiếng về cái mà ông gọi là tiếp cận “nguyên lý” chống
lại tiếp cận “địa vị” khi thương lượng mua bán trong cuốn sách hết sức
bổ ích và sâu sắc của các ông Đạt tới sự thỏa thuận. Mặc dù từ
Thắng/Thắng không được sử dụng, tinh thần và triết lý cơ bản của cuốn
sách phù hợp với Thắng/Thắng.

Các
ông đề xuất rằng bản chất của thương lượng trên nguyên lý là tách con
người ra khỏi vấn đề , tập trung vào lợi ích chứ không phải là địa vị ,
tạo ra những sự lựa chọn có lợi cho cả đôi bên và nhấn mạnh vào các
tiêu chuẩn khách quan – một số tiêu chuẩn hoặc nguyên lý mà các bên
chấp nhận được.

Trong
khi làm việc với nhiều người và nhiều tổ chức để tìm những giải pháp
Thắng/Thắng, tôi cho rằng chúng tham gia vào một trong bốn bước sau đây:

Thứ
nhất, nhìn vấn đề từ quan điểm người khác. Thực sự tìm tòi để hiểu và
để nói lên được các nhu cầu và sự quan tâm của người khác cũng như hoặc
hơn cả của bản thân.

Thứ hai, xác định các vấn đề then chốt và những sự quan tâm (không phải là địa vị) cần phải có.

Thứ ba, xác định những kết quả có thể có được của một giải pháp chấp nhận được toàn bộ.

Thứ tư, xác định những lựa chọn mới có thể có để đạt được những kết quả đó.

Thói quen 5 và 6 giải quyết trực tiếp hai yếu tố của quá trình này và chúng ta sẽ đi sâu vào chúng trong hai chương tiếp theo.


đây cần phải chỉ ra là bản chất của quá trình Thắng/Thắng quan hệ hết
sức chặt chẽ với bản chất của bản thân Thắng/Thắng. Bạn chỉ có thể đạt
được giải pháp Thắng/Thắng với quá trình Thắng/Thắng – mục đích và
phương tiện giống nhau.

Thắng/Thắng
không phải là một kỹ thuật về nhân cách. Nó là một mẫu tổng thể về tác
động qua lại của con người. Nó xuất phát từ tính cách chính trực, chín
chắn và tâm trạng phong phú. Nó lớn lên từ quan hệ tin cậy cao. Nó được
thể hiện trong những thỏa thuận nêu rõ những dự định được quản lý có
hiệu quả và được thực hiện.


phát triển mạnh trong hệ thống rường cột. Và nó được hoàn thành thông
qua quá trình mà chúng ta sẽ xem xét đầy đủ hơn trong Thói quen 5 và
Thói quen 6.

GỢI Ý ÁP DỤNG

  1. Suy nghĩ về tác
    động qua lại xảy ra khi bạn định tìm một sự thỏa thuận hoặc một giải
    pháp thương lượng. Cam kết duy trì sự cân đối giữa can đảm và quan tâm.
  2. Lập một danh sách
    những trở lực mà bạn gặp phải khi áp dụng mẫu Thắng/Thắng thường xuyên
    hơn. Xác định những gì có thể làm được trong Vòng ảnh hưởng của bạn để
    loại bỏ một số trở lực đó.
  3. Chọn một mối quan
    hệ đặc biệt ở đó bạn có thể phát triển sự thỏa thuận Thắng/Thắng. Thử
    đặt mình vào vị trí người khác và viết ra một cách rõ ràng bạn nghĩ gì
    về cái mà người kia nhìn vấn đề. Sau đó, theo góc nhìn của bạn , hãy
    viết ra cái gì làm nên thắng lợi của bạn. Tiếp cận người khác và hỏi
    nếu họ sẵn lòng giao tiếp cho đến khi bạn đạt được một sự thỏa thuận và
    một giải pháp có lợi cho cả đôi bên.
  4. Xác định ba mối
    quan hệ cơ bản trong cuộc sống của bạn. Chỉ ra rằng bạn cảm thấy có sự
    cân đối trong một Tài khoản Ngân hàng tình cảm. Viết ra vài cách đặc
    biệt bạn làm để gửi vào mỗi Tài khoản.
  5. Hãy nghiên cứu sâu
    kịch bản của bạn. Nó có phải là Thắng/Thắng không? Kịch bản đó ảnh
    hưởng đến tác động qua lại của bạn đối với những người khác như thế
    nào? Bạn có thể xác định được nguồn gốc chủ yếu của kịch bản đó không?
    Xác định xem những kịch bản đó có đáp ứng tốt thực tế hiện tại của bạn
    hay không?
  6. Thử xác định một
    mẫu suy nghĩ Thắng/Thắng của một người, mà ngay cả trong những tình
    huống khó khăn, vẫn mong muốn tìm được lợi ích chung. Bây giờ hãy xem
    xét cẩn thận hơn và học tập tấm gương của người đó.