![]() |
|
Giàn khoan Bạch Hổ 2 của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Ảnh: CTV |
Các
Tập đoàn kinh tế nhà nước nắm giữ phần vốn lớn và được giao khai thác
những tài nguyên trọng yếu của đất nước. Với mong muốn tạo thế đứng
vững chắc hơn cho nền kinh tế trong quá trình hội nhập ngày càng sâu
rộng, Chính phủ đã chỉ đạo phải tiếp tục củng cố và nghiên cứu để tăng
thêm số lượng các Tập đoàn kinh tế nhà nước.
Vai trò quan trọng trong nền kinh tế
Hiện
cả nước có 8 Tập đoàn kinh tế nhà nước (KTNN) gồm: Than-Khoáng sản Việt
Nam, Dệt may, Cao su, Dầu khí, Bưu chính -Viễn thông, Điện lực, Tài
chính – Bảo hiểm và Công nghiệp tàu thủy cùng với 96 Tổng công ty, Công
ty lớn của nhà nước.
Tuy
còn những nhược điểm trong tổ chức và hoạt động nhưng không thể phủ
nhận các Tập đoàn kinh tế nhà nước đã sản xuất ra một lượng hàng hóa
lớn phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu, tỷ lệ tăng trưởng khá
cao, có vai trò quan trọng trong việc giúp Chính phủ điều tiết, ổn định
nền kinh tế. Nhất là trong thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn thì việc
nhà nước nắm vững được những ngành sản xuất thiết yếu lại càng trở nên
quan trọng. Đầu năm nay, mặc dù giá nguyên liệu trên thế giới tăng cao
nhưng theo chỉ đạo của Chính phủ, các Tập đoàn KTNN vẫn giữ vững giá cả
những mặt hàng thiết yếu, tránh gây xáo trộn cho nền kinh tế và xã hội.
Thế
nhưng, trong xã hội còn có những nhìn nhận khác nhau về hiệu quả, vai
trò của các Tập đoàn kinh tế nhà nước. Thậm chí có ý kiến còn cho rằng
các Tập đoàn kinh tế nhà nước là nguyên nhân gây ra lạm phát…
Thủ
tướng Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành, phải nhanh chóng sơ kết mô
hình tập đoàn để rút kinh nghiệm và vạch ra phương hướng phát triển
trong thời gian tới.
PGS.
TS Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện Chiến lược công nghiệp (Bộ Công
Thương) cho rằng, với một nền kinh tế còn yếu như của Việt Nam, lại mới
tham gia hội nhập, thì các nhân vật chính tham gia cuộc chơi toàn cầu
phải là các tập đoàn kinh tế mạnh. “Nói gì thì nói, rõ ràng, xã hội
vẫn có niềm tin lớn hơn với sản phẩm của các doanh nghiệp nhà nước. Và
đây cũng là thế mạnh để xây dựng thương hiệu khi ra quốc tế”. Ông Phan Đăng Tuất nhìn nhận.
Trong
cuộc họp sơ kết thí điểm mô hình Tập đoàn KTNN, ngoài việc khẳng định
vai trò tích cực, Bộ Công Thương (quản lý 4 Tập đoàn KTNN) cũng thẳng
thắn nhìn nhận do được chuyển đổi từ các tổng công ty 91, chưa có cơ
chế, chính sách và mô hình cụ thể nên hoạt động của từng đơn vị chưa
thống nhất, rõ ràng. Trong một số lĩnh vực cụ thể, hoạt động của một số
tập đoàn hiện mang tính độc quyền, chưa phù hợp với cơ chế cạnh tranh
trong nền kinh tế thị trường. Một số doanh nghiệp chưa thoát khỏi tư
duy của cơ chế bao cấp, xin cho, không dám chịu trách nhiệm, có quyền
nhưng không dám quyết mà vẫn xin ý kiến Công ty mẹ.
Chỉ nên hình thành tập đoàn khi điều kiện chín muồi?
Ngoài
8 Tập đoàn nêu trên, hiện nay 4 Tổng công ty lớn là: Tổng công ty Hóa
chất Việt Nam, Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam, Tổng công ty Thép Việt
Nam, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam cũng đã đề xuất được phát triển
thành mô hình tập đoàn. Hiện nay, Nghị định hình thành, tổ chức, hoạt
động và quản lý đối với tập đoàn kinh tế nhà nước đang trong quá trình
được xây dựng. Theo dự thảo Nghị định thì một điều kiện quan trọng để
chuyển đổi từ tổng công ty sang mô hình tập đoàn KTNN là vốn điều lệ
của công ty mẹ không thấp hơn 3.000 tỷ đồng; Tổng công ty, nhóm công ty
mẹ-con hoạt động kinh doanh có lãi trong ba năm liền và không có lỗ lũy
kế tính đến trước thời điểm chuyển đổi; hoàn thành các nghĩa vụ tài
chính đối với Nhà nước…
Dưới
góc độ nhà quản lý, ông Trần Thảo, Phó trưởng Ban đổi mới và phát triển
doanh nghiệp Bộ Công Thương cho rằng, cần sớm có quy định về các tiêu
chí, điều kiện hình thành tập đoàn kinh tế. Theo ông, phát triển mô
hình tập đoàn là cần thiết, cái chính là cần cân nhắc xem các tổng công
ty, các ngành nghề cụ thể nào nên phát triển thành tập đoàn.
Nằm ở phía các ý kiến phản biện, TS. Nguyễn
Đình Cung, Trưởng Ban Nghiên cứu chính sách Kinh tế Vĩ mô Viện Nghiên
cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, nên để các tập đoàn kinh tế
được hình thành một cách tự nhiên, xuất phát từ nhu cầu phát triển của
nó hơn là từ các mệnh lệnh hành chính. Theo TS. Nguyễn Đình Cung thì
trong các điều kiện để thành lập Tập đoàn KTNN thì vốn không phải là
yếu tố quan trọng hàng đầu mà là mối liên kết giữa các đơn vị trong
nhóm công ty dựa trên nhu cầu nội tại của chính những công ty ấy.
Tại
hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp
với Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế trung ương tổ chức bàn về việc quản
lý các tập đoàn KTNN, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, hiện nay có xu
hướng tổng công ty thích mang tên “tập đoàn” cho oai. Một chuyên
gia cho rằng, tên gọi là Tập đoàn, hay Tổng công ty không quan trọng.
Quan trọng là định chế và nội hàm của định chế kinh doanh ấy là gì.
Đầu tư ra ngoài lĩnh vực chính cần được định hướng
Thời
gian qua, dư luận đặc biệt quan tâm tới việc đầu tư ra ngoài lĩnh vực
chính của các Tập đoàn KTNN. Hiện nay, chưa có thống kê tổng thể nào
cho thấy các Tập đoàn KTNN đầu tư ra ngoài lĩnh vực chính lỗ lãi ra
sao.
Bộ
Công Thương đánh giá việc mở rộng đa ngành, đa nghề ra nhiều lĩnh vực
không phải sở trường như tài chính, ngân hàng… đã phần nào làm giảm
năng lực và sự tập trung nguồn lực của các tập đoàn vào lĩnh vực chính.
Vì
thế, theo ông Trần Thảo, thời gian tới cần định hướng để các tập đoàn
đầu tư vào những ngành nghề liên quan đến ngành nghề chính của mình,
tận dụng được thế mạnh của mình. Theo ông, Tập đoàn Điện lực Việt Nam
(EVN) đầu tư vào viễn thông là có hiệu quả vì tận dụng được hệ thống
cáp, hay Tập đoàn Than- Khoáng sản Việt Nam (TKV) đầu tư vào điện cũng
có lợi vì dùng than làm nguyên liệu cho nhà máy nhiệt điện… Theo quy
định thì các Tập đoàn không được đầu tư ra ngoài quá 30% tổng số vốn.
Hiện nay, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt
Nam được coi là đầu tư nhiều ra ngoài lĩnh vực chính. “Tuy nhiên, vốn đầu tư ra ngoài chỉ chiếm khoảng 15-20% tổng số vốn của họ”. Ông Thảo nói.
Ông
Phan Đăng Tuất cho rằng, đầu tư ra ngoài lĩnh vực chính là vấn đề khách
quan. “Bởi các tập đoàn kinh tế nhà nước là doanh nghiệp kinh doanh đa
ngành, họ có quyền chọn những lĩnh vực tốt để đầu tư. Vấn đề là Nhà
nước cần có cơ chế, có “khung” để định hướng, tư vấn cho họ các hình thức kinh doanh hiệu quả.
Các
tập đoàn KTNN có những lợi thế rõ rệt bởi nguồn vốn đầu tư của nhà
nước, bởi được giao khai thác những tài nguyên trọng yếu. Vì vậy, các
cơ quan quản lý cần đề ra được những biện pháp quản lý hữu hiệu để vốn
của nhà nước được kinh doanh có hiệu quả nhưng vẫn phải đáp ứng được
nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh chủ yếu được giao, cùng với đó là hạn chế
độc quyền doanh nghiệp.
QUANG PHƯƠNG



![Drop Crown.. [ Explore #1 ] Drop Crown.. [ Explore #1 ]](http://static.flickr.com/4059/4231438863_17461115ac_t.jpg)



Ý kiến của riêng bạn